Thứ Ba, 9 tháng 3, 2021

Niềm tin của nhận thức (tiếp - Hamvas Béla, Minh triết thiêng liêng)

 “Minh triết thiêng liêng (theosophy) là gì?

Lý tưởng của bạn là gì?

Bạn muốn một thế giới như thế nào?

Thế giới là gì trong mắt của bạn?”

...

“Những người tìm kiếm, chúng ta đều đang tìm kiếm điều gì đó. Bạn là người tinh khôn (Homo sapiens)? Bạn, tôi, chúng ta đều không khôn như ta tưởng, chúng ta là những người tìm kiếm (Homo quaeritans) đang cùng nhau tiến đến sự thật cuối cùng.”- Inventsity G.Espace

                                                     Bình luận 2

Bước ngoặt lớn của sự nhập định: quay vào bên trong. Trí thức của sự chuẩn bị này: ấn tượng về MỘT. Kẻ học trò cần hiểu về MỘT như một hiện thực bất biến, không thể đổi thay, vĩnh cửu, không bao giờ mất đi.

Những câu lập luận về bản chất vĩnh cửu bất biến của MỘT có thể bắt gặp trong các chương của kinh Veda nói về Atman, trong Kinh Dịch nói về dương, trong Đạo Đức Kinh nói về đạo, trong kinh Kabbala nói về một hay về alef.

Khi ấn tượng về MỘT tương đối mạnh, một tia sáng mờ nhạt bắt đầu le lói trong tinh thần kẻ học trò rằng, thiên hình vạn trạng của cảm giác nhìn bằng mắt trần là một ảo thuật thật sự. Hiện thực chỉ có: MỘT. Trong giây phút ấy nó kêu lên: “con nhìn thấy toàn bộ, con nhìn thấy bản thân trong cái vĩnh cửu”. Lúc đó Hermes lên tiếng: “Con trai ta, đấy là sự hồi sinh”.

Sự nhập định không bắt đầu bằng lập luận này, cũng như không kết thúc bằng điều đó. Bước ngoặt lớn nhất của quá trình quay vào trong là ngưỡng quyết định. Nhưng đây không phải ngưỡng đầu tiên và cũng không phải là cuối cùng.

Thực ra giờ đây sự sống mới bắt đầu. Là “Niềm tin”. Sự nhạy cảm siêu nhiên giờ đây thức tỉnh. Kẻ học trò giờ đây mới phá tung đời sống bị khóa kín và bước vào sự sống mở.

Bước đầu tiên của kĩ thuật phép mầu nhập định là kẻ học trò hướng toàn bộ sự chú ý của nó đến một điểm nằm bên ngoài thế gian (extramundális). Có nghĩa là: nếu tri thức con người dưới tác động của sự tập trung và kỉ luật có chủ ý ngày càng tăng, trong một khoảnh khắc nó sẽ đứt rời khỏi hiện thực giác quan, và cần phải có một cái gì đó cho nó bám lấy.

Cần tới một điểm ngoài thế gian bởi vì chỉ những gì thật sự nằm ngoài thế giới giác quan mới gắn bó với con người. “Chỉ cái gì hoàn toàn khác biệt với cái Tôi mới có thể giải phóng và giải phóng nổi con người”. Ý nghĩa của khoảnh khắc này bất tử, mang tính bản chất, quyết định, và sâu sắc đối với toàn bộ số phận con người.

Bởi trong con người tri thức giải thoát này không phải một tri thức từ trước tới nay xa lạ chưa từng biết đến, mà là “một tri thức được ghi trong bầu khí quyển eter”, một tri thức đã xác định mà Hermes Trismegistos đã “viết vào bầu khí quyển eter”.

Linh hồn trong tri thức này nhận ra cội nguồn và hiện thực đích thực của bản chất mình. Nó thức tỉnh rằng: “Con người chỉ là bản sao, bản gốc chính là: Thượng Đế”. Đây là tri thức thiêng liêng, là khoa học thiêng liêng. Đây là sự bắt đầu và kết thúc, là thực chất, là ý nghĩa của mọi sự nhập định.

Đây là điều ở Ấn Độ người ta gọi là adhjátma-vidja.

Manu nói: “Kẻ nào không biết tri thức này, nó trống rỗng trong mọi hành động và tư tưởng... Chỉ kẻ nào biết tri thức này, kẻ đó có thể chỉ huy có hiệu quả quân đội, có thể kết án một cách quang minh, có thể cai trị một cách anh minh”.

Trong giây phút hiện tại chỉ có ngần này thứ cần còn lại: là kỉ luật tự thân, sự từ bỏ, chay tịnh, thực hành khổ hạnh, lời cầu nguyện, thiền định và các hoạt động chuẩn bị sự nhập định, là những thứ những kẻ theo thuật giả kim gọi là lửa; tiếng Sancrit gọi là tapas, ngọn lửa tự phủ nhận bản thân.

Cuộc sống khổ hạnh không là gì khác ngoài sự thức tỉnh của nguyên tố lửa vũ trụ. Lửa “tạo lập” các sự vật trong vũ trụ, lửa của Herakleitos và Jakob Böhme, hay đúng hơn, chính là logos - nguyên tố tạo dựng các thế gian.

Trong bản thân kẻ khổ hạnh ngọn lửa cháy bùng lên và bắt đầu tiêu hóa nó. Trong quá trình này nó hướng toàn bộ sức lực của mình vào một điểm độc lập với thế gian. Điểm này là hình ảnh cổ ban đầu (elemental).

Hình ảnh cổ này là nước của Thales, là apeiron của Anaximandros, là con số của Pythagoras, là trung của Khổng tử, là đạo của Lão tử. Lịch sử triết học gọi những hình ảnh cổ, điểm ngoài thế gian là lí thuyết cơ bản. Thực ra, không có lí thuyết cơ bản nào ở đây. Các hình ảnh cổ không phải là lí thuyết mà là các ý nghĩa.

Và các ý nghĩa không đứng riêng tách rời: “Mọi ý nghĩa giữ trong bản thân nó cái toàn bộ khác” (Saint-Martin). Những hình ảnh cổ ban đầu là các logos, hay như người Hindu gọi: mahavakja, những ngôn từ lớn của sự thông thái, các nguyên tử tạo hóa, hieroi logoi, như nhóm Pythagoras khẳng định. Là tư tưởng: “Lửa Thiêng”.

Không phải là những lí thuyết bởi chúng không tách rời nhau, không mang đặc tính độc lập và riêng biệt. Ý nghĩa của chúng chỉ cùng có trong “sự toàn hảo của sự vật” (pléroma), bởi sự toàn hảo của sự vật là ở nơi tất cả các ý tưởng của thế gian, nguyên tượng của tất cả vũ trụ tinh thần (intelligibilis kozmos) cùng tồn tại.

Niềm tin của nhận thức (Theo Hamvas Béla)

Bình luận 1

Creation of Adam: Michelangelo, Sistine Chapel, Vatican Palaces in Rome, 1512

Bắt đầu với nhan đề của Chương XIII trong cuốn Corpus Hermeticum: “Bài giảng trên Núi Thần bí”. Người ta gọi là bài giảng trên Núi, cho dù chẳng có núi nào ở đây, truyền thống thường biểu hiện sự nhập định của người học trò bằng hình ảnh tượng trưng gắn với Núi Thiêng “Epi tes tou orous metabaseos”.

        Núi ở Hi Lạp là Olimpiek, ở phương đông là Sinai, Tabor, ở Iran là Albodj, ở Ấn Độ là Meru. Người ta thường gọi là Núi Thiêng của châu Âu, của Tây tạng, của da đỏ châu Mĩ.

Hai nhân vật của cuộc đối thoại: Toth và Hermes. Kẻ trước là học trò, người sau là thầy. Hermes là nhân vật đã Hi Lạp hóa của một cái tên Ai Cập cổ. Về nhân vật này chỉ cần ghi nhớ dường như thời cổ người ta hay cho rằng Hermes xuất thân từ dân tộc Seth. Là con trai thứ ba của Seth Adam và Eva, là nhánh thứ ba của nhân loại đầu tiên.

Cain là con người trần thế, là sinh linh thức tỉnh từ bên dưới đi lên, giống như sau này phái Ngộ đạo dạy: là nhà thờ thoái hóa. Nhà thờ (ekklésia) không được hiểu như một đám đông mà như một cộng đồng tâm linh đã được chọn lựa.

Những cách gọi lâu đời này gần như không có ngoại lệ, trong mọi trường hợp đều nói đến các hiện sinh tâm linh, ví dụ: politheia không có nghĩa là nhà nước, mà theo ngôn ngữ ngày nay: là tâm lí tập thể (kollektiv psyche).

Cain là hình ảnh tượng trưng của tâm linh bị hư hỏng của con người thế gian, con người vật chất mà làn khói, làn hơi thở mang tính chất nạn nhân hướng xuống lòng đất. Abel là con người từ trên cao đi xuống, là hình ảnh tượng trưng của nhà thờ trời. Tội ác giết người của Cain trong các thời gian cổ chỉ ra sự kiện phạm pháp của nhân loại nguyên thủy, khi con người vật chất đã chiến thắng người trời.

Seth, con trai thứ ba không đến từ trên cao hay từ lòng đất mà là một con người thật sự, không phải quỷ, cũng không phải thiên thần mà là con người, một thực thể bậc trung, hình ảnh tượng trưng của nhân loại. Trong Seth, dù vật chất cai trị, nhưng kí ức về những huyền bí lớn mang theo từ thế giới tinh thần vẫn còn sống động. Thế hệ của Seth không chất chứa những đặc tính Thần của Abel, nhưng cũng không mang nỗi đam mê máu-thịt tăm tối và thèm khát, tính chất vật chất hóa nặng nề của Cain.

Các thế hệ của Seth quay trở lại với thế giới của Adam Kadmon - những người thầy và những kẻ đi thức tỉnh của nhân loại. Các nhà tiên tri, các nhà lập pháp, các giáo chủ, các trưởng tộc. Đại diện nổi bật nhất của thế hệ Seth là Henoch, nhà tiên tri khải huyền.

Thế hệ của Seth là thế hệ lãnh đạo trên con đường Ánh Sáng “Trên con đường này bản thân dạy dỗ không quan trọng, mà là sự chuyển đổi bên trong không thể lường trước, thức tỉnh do sự dạy dỗ”. Seth một mình mang theo tri thức “Bằng hành động, hiện thực, hình ảnh tượng trưng không đếm xuể quay trở về MỘT, và bằng tri thức này cảm nhận nổi con người đánh mất gì, nếu sống ngoài MỘT”.

Không được phép hiểu những cái tên Cain, Abel, Seth như các cá nhân, con người lịch sử cá nhân càng không được phép. Những cái tên giống như ngôn từ, không ngoại lệ, đều để đánh dấu các hiện sinh huyền bí.

Manu ở người Hindu, Buddha, Bodhisattva, Tulku ở Ấn Độ và Tây Tạng, Zarathustra ở Iran, Toth và Hermes ở Hi Lạp đều từng là các hiện sinh huyền bí, không phải là cái Tôi lịch sử. Con người lịch sử đã nhân cách hóa các hiện sinh này. Các hiện sinh này nhập thể vào con người. Nhập thể của Cain, Abel, Seth không có nghĩa là các cái Tôi cá nhân hóa của những đứa con của Adam và Eva tái sinh, mà có nghĩa là hiện sinh tinh thần cổ và vĩnh cửu một lần nữa mang hình dạng trần thế trong thực thể người.

Hermes, như một người thầy của truyền thống Ai Cập vô cùng cổ xưa, xuất thân từ các thế hệ của Seth, và sau nạn hồng thủy là kẻ đã cứu tri thức cổ trước tai họa vũ trụ, là người đầu tiên giảng dạy tri thức cổ này. Từ đó đến nay Hermes trở thành hình ảnh tượng trưng của hiện sinh huyền bí như Seth: là kẻ nhập định, kẻ tiếp tục truyền bá tri thức Hermes cổ, Hermes đã nhập thể.

Trong Lời Đối Thoại, Hermes đã dẫn dắt học trò Toth lên núi Thiêng nhập định, cốt lõi của lời dạy dỗ: sự tái sinh.

Lời Đối Thoại là cấp độ duy nhất của sự nhận định. Trước quá trình quyết định này, là những bàn luận về sự cần thiết phải đắm chìm vào suy tư, sự trong sạch của đạo đức, và sau cùng người học trò cần đưa mắt nhìn vào thế giới bên trong của mình. Đây là bước chuyển hóa (metanoia). Thực ra việc tự đánh giá nỗi suy tư chìm đắm, kỉ luật đạo đức ngặt nghèo không có. Tất cả chỉ tạo ra khả năng đưa con người bước qua, đi qua metathésis, chuyển đổi từ thế giới vật chất sang thế giới tinh thần.

Sự giác ngộ phụ thuộc vào sự trong sạch của các tầng chăn bao phủ thực thể người: cần nhìn thấu suốt bến mê và ảo ảnh. Cần sống trong sạch về mặt đạo đức vì thế.

Porphürios nói: Thần không xuất hiện chừng nào linh hồn chưa trong sạch, hay chừng nào con người tự mình chưa xua đuổi ma quỷ đi.

Sự tiếp nhận đạo đức trong sạch, trinh nguyên, lối sống khổ hạnh khiến mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên vật chất không còn căng thẳng, và để con người nhạy cảm hơn với những kinh nghiệm siêu nhiên. Mục đích: cần sự nhạy cảm. Bởi vậy Thánh Phao-lô trong Lá thư gửi những người Do Thái đã viết: hãy gắn chặt với niềm tin.

Ngày nay người ta sử dụng nhầm lẫn một cách cơ bản từ “niềm tin”, làm đảo lộn đến tận cùng toàn bộ các tôn giáo từ hàng thế kỉ nay. Niềm tin không phải một hoạt động tri thức hay cảm xúc hoặc bất kì một hoạt động tinh thần hay linh hồn nào của con người: mà niềm tin là kinh nghiệm siêu nhiên và là sự nhạy cảm siêu nhiên.

“Niềm tin không đối chọi với tri thức - theo thánh Saint-Martin - niềm tin là một cử chỉ phép thuật, không phải là tri thức”.

Niềm tin là một tâm trạng siêu nhiên, là sự nhạy cảm, sự cởi mở và khả năng siêu nhiên giúp con người hiểu biết thêm về những thế giới siêu vật chất. Bởi vậy từ Hi Lạp pisztisz - niềm tin - không dở nhưng cũng không diễn tả được điều này.

Thánh Phao-lô từng dạy dỗ về một niềm tin mang lại phúc lạc, có liên quan đến tâm trạng siêu nhiên, không kêu gọi sự mù quáng. Niềm tin là một kinh nghiệm cao cả hơn tạo khả năng cho con người chuyển hóa, biến động, tạo ra một bước ngoặt lớn.

Bởi vậy Thánh Saint-Martin cho rằng niềm tin là phép thuật. Là bước chuyển trong tín đồ, từng bị cất giấu nhưng mang tính chất quyết định, bởi vì: “Kẻ được niềm tin chỉ đường đi về phía Thượng Đế, kẻ đó cần thay đổi hoàn toàn đến tận từng tế bào vật lí”.

Thứ Tư, 2 tháng 12, 2020

Tài liệu tham khảo: Vài ghi chép về tư tưởng của John Stuart Mill.

 Note: Lấy từ bài viết của Nguyễn Huy Tử Quân.

                                                 


Giả sử có một vườn địa đàng (Utopia) mà ở đó con người không những tôn trọng tự do của người khác, đối xử khoan dung với khác biệt, mà còn biết đồng cảm và đùm bọc lẫn nhau, thì hẳn là nơi ấy không cần đến triết học và luật pháp. Nhưng kể từ khi Adam và Eva bị ném khỏi thiên đàng, nhân loại đã chịu phán quyết phải sống trong một thế giới mà cái ác là không kì lạ, sự truy bức hay áp đặt là không hề kém phổ biến. Nói như Isaiah Berlin, tự do và khoan dung chỉ như những ốc đảo hiếm hoi giữa sa mạc của tính đồng phục, bất khoan dung và tình trạng đàn áp con người.[1]

Vì lẽ ấy mà lịch sử nhân loại, biết bao con người đã lên án tình trạng kinh khủng ấy và tha thiết bảo vệ cho tự do. Thời đại Victoria ở nước Anh chứng kiến một trong những nhân vật có ảnh hưởng nhất đến công cuộc ấy – John Stuart Mill. Ông không chỉ là người mở ra một xu hướng mới trong triết học chính trị (xu hướng xác định ranh giới của tự do cá nhân và sự can thiệp hợp pháp của xã hội), mà còn là người đã truyền cảm hứng mạnh mẽ cho những ai đang đấu tranh bền bỉ chống lại uy quyền. Bài luận ngắn dưới đây trình bày (1) nền tảng cho tư tưởng của Mill, (2) những nét chính trong tư tưởng của ông, và mạn phép (3) trình bày một vài suy nghĩ về tư tưởng này.

Nền tảng lập luận của Mill

Trước Mill, có 2 mô hình triết học liên quan đến tự do khác. Mô hình thứ nhất là của Kant, chủ trương rằng nhờ có tự do mà con người thoát khỏi tính tất yếu của thế giới tự nhiên, và tự mình ban bố các quy luật cho riêng mình trong thế giới tinh thần để từ đó làm nền tảng cho cơ sở đạo đức. Cũng chỉ nhờ tự do này mà con người khác với con vật, trở thành sinh vật có phẩm giá.. Mô hình thứ 2 của Hegel, chủ trương rằng tự do tất yếu sẽ được hiện thực bởi quy luật lịch sử. Mill mở ra một xu hướng nghiên cứu mới, nhằm nỗ lực xác lập ranh giới hợp pháp giữa tự do cá nhân và can thiệp xã hội.

Tuy nhiên, quan điểm của Mill lại rất khác những người đi trước. Ông khước từ bất cứ ý tưởng nào về pháp quyền trừu tượng như một thứ độc lập với tính hữu ích[2]: Mill không tin tưởng vào các quyền tự nhiên của John Locke, cũng không tin vào bản chất tự do mang tính siêu hình học của Kant, càng không tin vào sự tất yếu lịch sử mà Hegel trình bày. Trong những lập luận sau, ta cũng không thấy ông nhắc đến khế ước xã hội, dù ông vẫn nói ở một số đoạn rằng “sự đồng thuận là cơ sở để xác định ranh giới của tự do cá nhân và can thiệp xã hội”.

Cơ sở lập luận dựa trên thuyết công lợi

Là học trò cưng của ông tổ thuyết công lợi Jeremy Bentham, đồng thời là con trai của James Mill – một môn đồ trung thành với lý thuyết ấy, Mill chịu ảnh hưởng lớn bởi học thuyết này. Ông khẳng định rằng tất cả những gì ông quan tâm là tính hữu ích.[3]

Thuyết công lợi chủ trương việc đúng phải làm là “việc đem lại lợi ích hay hạnh phúc lớn nhất cho số người lớn nhất”. Tuy nhiên, việc hiểu thế nào là “hạnh phúc” ở Mill và Bentham lại không giống nhau. Trong khi Bentham quan niệm rằng, con người chịu sự cai trị của sự hạnh phúc và đau khổ, cho nên hành động đúng đắn là hành động đem lại sự sung sướng hoặc giảm trừ đau khổ. Khái niệm hạnh phúc của Bentham gần như giống với sự thỏa mãn hơn (pleasure). Ông tin rằng hạnh phúc chỉ có giá trị về lượng mà không có giá trị về chất, nghĩa là nếu việc ăn uống no say cũng làm ta ngây ngất (lượng giống nhau) như khi ngắm một bức họa đẹp, thì không thể nói rằng niềm vui nào “giá trị” hơn niềm vui nào. Triết học của Bentham phải chịu 2 phê phán (điều mà sẽ được giải quyết bởi Mill). Thứ nhất, Thuyết này nhìn nhận bản chất con người một cách quá thấp trên thang nhân bản, đến nỗi khiến cho Carlyle[4] gọi thứ triết học này là triết học lợn (pig philosophy)[5]. Thứ hai, không thể tính toán một cách định lượng tính vị lợi của một hành động, vì vậy sẽ chẳng thể đi tới một kết luận nào về tính đúng đắn hay sai lầm của hành động đó.

Khác với Bentham, Mill đã giải thích hạnh phúc một cách vừa rộng, vừa mơ hồ, đến nỗi nếu đem so với khái niệm hạnh phúc ban đầu, thì cái của Mill chỉ còn cái vỏ bọc ngôn ngữ và ý nghĩa thì đã mất hẳn. Mill nói rằng, “tính công lợi, hay hạnh phúc, là một cứu cánh quá phức tạp hay quá mập mờ, nên không tìm kiếm được, ngoại trừ phải thông qua các trung gian của những cứu cánh thứ cấp đa dạng”[6] Nghĩa là mặc dù ban đầu ông cho rằng tính hữu ích, hay tính vị hạnh phúc là tiêu chí duy nhất để phán xét 1 hành động, ông lại mâu thuẫn khi nói rằng, vì khái niệm hạnh phúc là quá mơ hồi chúng ta không thể dùng hạnh phúc để làm tiêu chí phán xét được. Do đó, ông đề xuất phải theo đuổi các cứu cánh thứ cấp bao gồm (nhưng không phải toàn bộ) sự tiến bộ của nhân loại như một tổng thể, lòng khoan dung, sự tự do và chân lý,… Như vậy, Mill đã mở rộng khái niệm hạnh phúc đến nỗi hệ quả của nó là triết học của Mill, như ta sẽ thấy, không hề mang một chút màu sắc công lợi nào. Và chính vì lẽ đó, thay vì tìm cách sáng tạo ra một “công cụ tính toán hạnh phúc” (hedonist caculus)[7] để xác định tính đúng sai của hành động trong từng trường hợp cụ thể như Bentham, Mill gạt bỏ luôn việc xác định tính đúng sai bằng cách định lượng lợi ích, mà đưa ra nghững nguyên tắc về Tự do có thể áp dụng trong mọi trường hợp, bất kể tính chất vị lợi của nó.

Tiền đề nhận thức luận của Mill

Mill quan tâm đến 3 loại tự do, gồm tự do lương tâm, tự do ngôn luận (chương II) và tự do lựa chọn cách sống của mình (chương III)[8]. Ông khẳng định rằng tự do lương tâm mang tính tuyệt đối, còn tự do ngôn luận là điều kiện cần thiết để tự do lương tâm không trở nên vô nghĩa.

Tuy nhiên, trước khi đi vào lập luận của Mill, cần nhắc đến một tiền giả định về khả năng tri thức của con người mà Mill tin tưởng (mặc dù ông không hề phát biểu và chứng minh về tiền giả định này. Suy cho cùng ông không phải là một nhà nhận thức luận): Mill tin rằng con người có thể sai lầm, rằng chân lý tối hậu và chung cuộc là không thể đạt được. Ông viện dẫn rằng ngay cả khoa học và số học, là những ngành khoa học mang tính chất chắc chắn cao, còn phải dựa vào kinh nghiệm để chứng minh một lý thuyết hay một mô hình; thì cớ gì mà trong các lĩnh vực luật pháp, đạo đức học, chính trị học, triết học hay tôn giáo – những lĩnh vực mà ở đó các lý thuyết chỉ mang tính xác suất, lại có người dám tự tin tuyên bố rằng điều anh ta tin là điều đúng đắn? Điểm này, Mill giống với các nhà thường nghiệm Anh (vốn có nguồn gốc từ Aristole) khi tin rằng, tri thức chỉ có sau thực nghiệm. Và vì vậy, nếu tri thức không phản ánh thường nghiệm thì nó phải bị bác bỏ.[9]

Trái ngược với quan điểm rằng tồn tại một thứ chân lý có trước cả kinh nghiệm, chân lý này có nguồn gốc từ thế giới lý tưởng (Plato) hoặc có nguồn gốc từ Chúa (Kito giáo) và được phát hiện thông qua mặc khải.

Tranh luận giữa 2 phe Aristotle và Plato này, là một tranh luận chưa có hồi kết trong lịch sử triết học về nhận thức. Vì vậy, ta sẽ thấy những câu trả lời của Mill đối với phe phản đối cũng không thực sự mang tính thuyết phục về logic.

Tư tưởng của Mill về Tự do

Mill bảo vệ tự do ngôn luận

Sau khi hiểu được tiền đề ngầm định trong đầu óc Mill, ta bắt đầu xem xét lập luận của ông. Mill lập luận rằng, chính vì không ai là có thể sai, cho nên chính nhờ Tự do ngôn luận mà các ý kiến khác biệt, thậm chí đối lập có thể đối đầu với nhau trên một “thị trường tư tưởng”, để từ đó loại trừ các lý thuyết sai lầm. Ông khẳng định, nếu một phát ngôn là sai lầm, thì phát ngôn ấy sẽ có ích bằng cách giúp cho chúng ta hiểu “một cách sống động hơn về điều chúng ta đang tin là đúng”. Mill thêm rằng, nếu chân lý không bị thách thức, ắt sẽ suy thoái thành giáo điều hay định kiến[10] và đưa xã hội vào tình trạng nô lệ kinh khủng về tư tưởng. Ngược lại, nếu một phát ngôn là đúng đắn hơn các phát ngôn khác, thì nó sẽ giành chiến thắng ở trận đấu cuối cùng, và chính nhờ đó mà nhân loại Tiến bộ hơn, tiến gần hơn đối với Chân lý. Như vậy, với Mill, tự do ngôn luận sẽ luôn đem lại “hạnh phúc” cho nhân loại, vì vậy sẽ không bao giờ là sai lầm, khi ta bảo vệ cho quyền tự do lên tiếng của bất kì ai, kể cả những kẻ mà ta cho là sai lầm hay lố bịch.

Mill bảo vệ tự do lựa chọn cách sống

Một cách tương tự, Mill bảo vệ tự do lựa chọn cách sống cho riêng mình (chương III) cũng bằng lập luận về tính hữu ích. Trước tiên, Mill khẳng định rằng con người không có một bản chất chung nào. Bản chất của con người có thể thay đổi theo vô vàn cách, dựa trên các yếu tố tự nhiên, sự tiếp xúc của anh ta với những người khác, cũng như chính bản thân sự lựa chọn của anh ta về về nên trở thành con người như thế nào vậy. Như vậy, con người trong suy nghĩ của Mill, hàm chứa vô vàn những tiềm năng tốt đẹp (đi kèm với những tiềm năng xấu) mà chúng ta không thể nào hình dung trước. Nhưng không phải khi nào những yếu tố tiềm tàng đó, có thể phát triển thành cái thực tồn. [11]

Mill khẳng định, chỉ khi để cho con người tự do lựa chọn cách sống của riêng mình, thì cái tiềm năng tốt đẹp kia mới có khả năng để chiến thắng cái tiềm năng xấu. Như vậy, nếu ai cũng được tự do lựa chọn cách sống của mình, thì xã hội trở thành một cuộc thử nghiệm trên quy vô rộng lớn về cách thức tổ chức đời sống, chính nhờ vậy mà một cách sống tốt mới có khả năng sinh ra và thuyết phục nhân loại lựa chọn nó, để rồi khiến cho xã hội loài người tiến bộ hơn.

Tuy nhiên, ông không chỉ nhìn tự do này dưới góc độ lợi ích, ngược lại, ông cho rằng sự đa dạng bản thân nó đã là một giá trị đẹp của đời sống. Ông khẳng định rằng, nếu không có tự do lựa chọn cách sống này, thì xã hội loài người sẽ trở nên què quặt và nghèo nàn.

Nguyên tắc Tự do của Mill

Bên cạnh những bảo vệ Tự do của Mill dựa trên tính hữu ích, Mill có một đóng góp lớn cho nhân loại khi là người đầu tiên đặt vấn đề về ranh giới của tự do cá nhân và can thiệp xã hội.

Ông nhìn thấy ở thời đại mình một nguy cơ vô cùng kinh khủng thúc đẩy sự độc tài của xã hội: Tư tưởng (Thanh giáo) chính thống của thời đại Victoria đối với vấn đề luân lý yêu sách sự tuân thủ nghiêm ngặt và triệt để: “trong thời đại chúng ta, từ giai cấp cao nhất cho đến thấp nhất của xã hội, ai ai cũng phải sống dưới con mắt của một sự kiểm duyệt thù địch và đáng sợ”; các điều kiện sống ngày càng tương đồng khiến cho không chỉ lối sống mà cả lối suy nghĩ cũng trở nên rập khuôn: “…đọc, nghe, nhìn cùng những thứ giống nhau, đi đến cùng một nơi, hy vọng và lo âu về cùng một thứ…”.[12]

Trong tác phẩm của mình, Mill liên tục nhấn mạnh rằng, sự đàn áp của xã hội tồi tệ không kém gì sự đàn áp từ nhà nước. Ông cảnh báo rằng cái mối nguy ấy đang ngày một lớn lên. Ông thấy ở đám đông cái tính cách thích đàn áp cố hữu của nó, do vậy ông cũng lo sợ sự suy thoái của tự do trong nền dân chủ, hệt như cách mà Tocqueville đã từng bày tỏ mấy chục năm về trước trong tác phẩm Nền dân trị Mỹ của ông.

Tuy nhiên, không vì thế mà Mill phản đối nền dân chủ. Ông cho rằng nguồn gốc quyền lực của nhà nước xuất phát từ nhân dân là chính đáng nhất. Vì thế, giải pháp ông đưa ra, là vạch một đường ranh giới mà sự can thiệp của xã hội hay nhà nước không thể vượt qua, điều mà sau này trở thành một nguyên tắc có ảnh hưởng rất lớn trong chính trị học: Nhà nước hay xã hội không được can thiệp vào công việc nào chỉ liên quan đến lợi ích của cá nhân; Sự can thiệp chỉ hợp pháp khi hành động của một cá nhân gây thiệt hại cho lợi ích của một cá nhân khác.[13] Ông khẳng định rằng, không thể can thiệp vào lựa chọn cá nhân, nếu ta nghĩ rằng hành vi đó gây tổn hại cho chính họ. Cũng bởi cùng một nguyên nhân như các lập luận trước: không ai có quyền khẳng định cái gì là có lợi cho người khác.

Tuy nhiên, Mill không tin rằng đây là một nguyên tắc tuyệt đối. Ông cho rằng trong những lĩnh vực như giáo dục, lao động, nhà nước có thể can thiệp vào lựa chọn của cá nhân để bảo vệ họ. Trường hợp của giáo dục, nhà nước có thể bắt buộc trẻ em đến trường, nhằm giáo dục cho nó trở thành một người có khả năng lựa chọn đúng đắn. Còn đối với người lao động, Mill ủng hộ các sắc luật giới hạn giờ làm việc, đề ra mức lương tối thiểu để bảo vệ người công nhân. Ông nói rằng cần can thiệp trong trường hợp ấy để kẻ yếu không bị nghiên nát.

Nguyên tắc của Mill cũng gặp một số tra vấn không dễ gì giải quyết. Có người lập luận rằng, ranh giới giữa cá nhân và xã hội là không thể xác định được. Vì tất cả hành động của chúng ta đều ít nhiều liên quan đến người khác. Hay “chẳng ai là một hòn đảo cả” – như cách nói của họ. Sự tra vấn khác đặt câu hỏi, thế nào mới được hiểu là “tổn hại”? Liệu những người hồi giáo cảm thấy bị xúc phạm sâu sắc khi đọc báo châm biếm của Charles Hebdo có phải là một sự tổn hại hay không? Và nếu có thì làm sao biện minh cho tự do thảo luận trong trường hợp này?[14]

Các niềm tin mà Mill không nói cho chúng ta

Đọc tác phẩm trứ danh của ông có thể cho ta cảm giác rằng kết luận của Mill được xây dựng trên cơ sở hoàn toàn suy lý. Tuy nhiên khi xem xét cuộc đời của Mill, ta thấy rằng dường như Mill bảo vệ tự do một cách mạnh mẽ hơn cách mà một người công lợi có thể hành xử; dường như Mill bảo vệ Tự do như cứu cánh chứ không phải như phương tiện. Bởi ta không thấy đâu trong thực tại những sự đắn đo về tình lợi ích mỗi khi ông lên tiếng bảo vệ tự do của riêng ai hay giai cấp nào. Ông bênh vực cho những kẻ dị giáo, kẻ bội giáo, kẻ báng bổ Chúa, bênh vực cho tự do một cách chân thành trong suốt cuộc đời mình.[15] Ta thấy được sự chân thành của ông khi Mill nói rằng vua Napoleon III là kẻ hèn hạ nhất còn sống; khi ông bày tỏ niềm vui sướng khi dự luật quy định hành vi chống lại sự chuyên chế của các dân tộc thuộc địa bị bãi bỏ; khi ông lên án các Bang miền Nam trong cuộc nội chiến của nước Mỹ; hay khi ông làm dân chúng Anh phẫn nộ vì đã phát biểu ủng hộ những kẻ ám sát Fenian tại hạ viện.[16]

Cuộc đời của Mill là cuộc đời của việc hiện thực hóa những lý tưởng mà ông tin tưởng. Thật khó mà nghĩ rằng ông đã hành động nhiệt thành như thế chỉ vì ông tin rằng Tự do đem lại lợi ích.

Như Bertrand Russell đã nhận xét khi đọc các tác phẩm của Mill, “những niềm tin chắc của các triết gia hiếm khi nào lại chứa đựng ở trong các luận cứ mang tính hình thức của họ; những niềm tin cơ bản, những quan điểm bao quát về cuộc sống giống như những pháo đài phải được bảo vệ chống lại kẻ thù”[17]. Quả thật vậy. Khi đọc Bàn về Tự do cũng như nghiên cứu cuộc đời hoạt động chính trị của Mill, ta thấy rằng Mill rất tin tưởng là Tự do có giá trị tự thân của nó (điều mà ông không thừa nhận). Một minh chứng có thể tìm thấy khi Mill nói rằng, việc các quốc gia thành bang cổ đại ở Hy Lạp ép buộc người dân phải tham gia vào một chương trình rèn luyện thể lực, quân đội và giáo dục bắt buộc để chống lại sự đe dọa từ ngoại bang là tạm chấp nhận được. Nếu Mill là một người công lợi, Mill hẳn sẽ không ngần ngại mà khẳng định rằng sự đàn áp kia là đúng đắn. Việc Mill chỉ nhận xét rằng hành động ấy là chấp nhận được cho ta thấy, Mill đã cho Tự do một giá trị riêng, (và chỉ khi nó xung đột với lợi ích chung của thành bang thì sự hạn chế tự do mới được biện minh).[18]

Những niềm tin của Mill vào giá trị tự thân của Tự do, hẳn xuất phát từ tuổi thơ ngột ngạt và đầy sự áp đặt từ cha ông. Cha ông vì tin rằng một con người duy lý là con người hạnh phúc, nên đã đào tạo Mill thành một người quá thiên về lý tính. Mill đã từng bộc lộ trong Tự truyện của mình rằng, ở tuổi 17, mặc dù có sự hiểu biết của một người có học tuổi 30, nhưng ông lại không hề có khả năng cảm xúc như một con người bình thường. Ông đã trải qua một cuộc khủng hoảng sâu sắc vào thời trẻ, cho đến khi nhận thấy rằng mình có thể khóc lần đầu tiên trong đời khi đọc một tác phẩm văn học Pháp cùng thời. Chính thời điểm bước ngoặt đó, ông đã bắt đầu tìm đọc văn học và thưởng thức nghệ thuật. Hẳn là từ đó, ông đã nhận ra sự nguy hại của việc áp đặt giáo dục, rằng sự áp đặt sẽ làm hủy hoại những khả năng đa dạng và phong phú nơi con người ta.

Chính vì lẽ đó, John Stuart Mill đã trở thành một con người bảo vệ Tự do và đa dạng một cách nhiệt thành như vậy, không phải niềm tin của ông vào thuyết công lợi, cũng chẳng phải vì sự tin tưởng vào lập luận của ông. Mill bảo vệ Tự do, bởi vì ông tin tưởng vào những giá trị tốt đẹp ấy.

Tạm kết

Mặc dù không thể giải quyết được sự tra vấn ấy, chúng ta không thể nghi ngờ về sự đóng góp của Mill đối với cuộc tranh đấu đòi Tự do của nhân loại. Những tư tưởng của Mill đã ảnh hưởng sâu sắc đến cách nghĩ của chúng ta trong thời đại ngày nay, đến nỗi làm cho chúng ta tưởng rằng điều ấy là hiển nhiên vậy. Vì vậy, Mill xứng đáng là nhà tư tưởng về Tự do đáng ngưỡng mộ nhất của thời đại Victoria, không phải vì sự sâu sắc hay thuyết phục trong lý thuyết của ông, mà bởi tình yêu, lòng nhiệt thành và niềm tin tưởng sâu sắc vào Tự do sẽ dẫn đến sự Tiến bộ cho Nhân loại. Thế kỉ XX nợ Mill rất nhiều.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Isaiah Berlin, ‘Tất định luận và Tự do lựa chọn’, Nxb Tri Thức, Trang 202

[2] John Stuart Mill, ‘Bàn về Tự do’, Nxb Tri Thức, Trang 39

[3] Liệu có thật sự rằng Mill không khác gì với các nhà công lợi trước đó, vốn chỉ quan tâm đến tính hữu ích? Điều này được tác giả bày tỏ quan điểm các phần sau

[4] Một nhà tư tưởng thời Victoria. Ông cũng đồng thời là bạn của John Mill

[5] Bùi Văn Nam Sơn, ‘Đọc lại “BÀN VỀ TỰ DO” của John Stuart Mill’, website: tinhthankhaiminh.blogspot.com

[6] Isaiah Berlin, ‘Tất định luận và Tự do lựa chọn’, Nxb Tri Thức, Trang 221

[7] Reds.vn, ‘Tư tưởng đạo đức – nhân sinh: 5 – Chủ nghĩa vị lợi của Jeremy Bentham’, Website:reds.vn

[8] Thực ra Mill còn đề cập đến tự do lập hội, nhưng ông xem tự do lập hội là hiển nhiên không cần phải chứng minh. Có lẽ ông vì đang sống trong điều kiện mà tự do lập hội bị bóp nghẹt, cũng như ông thấy được lợi ích của nó trong việc đấu tranh đòi quyền lợi cho công nhân (Mill chịu ảnh hưởng của Chủ nghĩa xã hội ôn hòa, vốn đang thịnh hành ở Anh Quốc thời đó), cho nên ông chưa tiên liệu được những điều kiện phức tạp có thể sẽ xảy ra khi thực hành tự do lập hội.

[9] Tuy nhiên phải lưu ý, Mill không phải người theo thuyết hư vô, rằng chẳng có chân lý nào trên đời cả. Ông tin rằng tuy không ai có thể chứng minh được điều gì là chân lý, nhưng ông ngầm khẳng định rằng, chúng ta có thể dựa vào thực nghiệm để chứng minh rằng một lý thuyết nào là sai. (Điều sau này được Karl Popper xây dựng thành một lý thuyết gây tiếng vang về Khoa học luận. Do đó, sự tranh luận và đối chiếu vào thực tiễn là không hề vô ích.

[11] Ở điểm này, ta thấy sự ảnh hưởng của triết học Aristotle lên Mill. Aristotle nói rằng, bên trong cái hạt có tiềm năng trở thành cái cây. Tiềm năng đó chỉ có thể trở thành hiện thực khi cái hạt được chăm bón dưỡng chất. Tuy nhiên, khác với Aristotle, Mill không tin vào tính tất định của tiềm năng ấy. Ông cho rằng con người có vô vàn những tiềm năng đa dạng không thể hình dung trước được.

[12] Bùi Văn Nam Sơn, ‘Đọc lại “BÀN VỀ TỰ DO” của John Stuart Mill’, website: tinhthankhaiminh.blogspot.com

[13] Vì Mill là triết gia công lợi nên ông sử dụng tính lợi ích trong nguyên tắc của mình. Các nhà triết học quyền tự nhiên sau này sửa chữ lợi ích của Mill thành quyền tự nhiên.

[14] Có lẽ tư tưởng của Mill đã phần nào hình thành các án lệ liên quan đến sự xung đột giữa tự do ngôn luận và tự do tôn giáo. Tòa án có xu hướng bảo vệ chỉ các ngôn luận có đóng góp vào công luận chung.

[15] Isaiah Berlin, “Tất định luận và tự do lựa chọn”, Nxb Tri thức, Trang 215

[16] Isaiah Berlin, “Tất định luận và tự do lựa chọn”, Nxb Tri thức, Trang 216

[17] Isaiah Berlin, “Tất định luận và tự do lựa chọn”, Nxb Tri thức, Trang 270

[18] John Stuart Mill, “Bàn về tự do”, Nxb Tri Thức, Trang 44.

 

Thứ Sáu, 25 tháng 9, 2020

Anh hề Arlequin (Trích: Biên bản bí mật)

1

Khi Romeo đang ưa thích một nàng Roza xinh đẹp (nào đấy), chàng nhạy cảm hơn một chút nhưng vẫn xử sự và nói năng như tất cả mọi người. Nhưng chàng bắt đầu mê sảng từ giây phút quen Julia. Chàng nói những câu kì lạ, sử dụng những ẩn ý kì lạ. Đôi khi quái gở, nhiều lúc vớ vẩn, phần lớn vô nghĩa. Chàng yêu càng say đắm bao nhiêu, hành vi và lời nói của chàng càng điên rồ bấy nhiêu. Ngôn ngữ của chàng, đột nhiên so với những kẻ khác cao hơn hẳn một cung bậc.

Hamlet lúc chưa gặp hồn ma của cha mình, chàng hơi âu sầu nhưng xử sự và nói năng hệt như những kẻ khác. Từ giây phút nhìn thấy cha, chàng bắt đầu mê sảng. Ô! Thật đáng ngạc nhiên! Cũng từ giây phút ấy, hóa ra không phải chàng, mà là mọi kẻ khác mê sảng, chàng mới là người ăn nói tỉnh táo.

Những người khác tiếp tục sử dụng không mảy may ngờ vực ngôn ngữ của họ, còn Romeo và Hamlet nghe những lời vô nghĩa này một cách khó chịu. Nhưng chúng ta, những kẻ nhìn màn kịch từ vị trí có một không hai này, không gì làm chúng ta nhầm lẫn được nữa.

Chúng ta biết rất rõ, Romeo và Hamlet nói năng tỉnh táo, còn những kẻ khác mê sảng hoặc ngộ nhận. Chúng ta biết, Romeo và Hamlet chơi chữ, sử dụng những từ ngữ kì lạ với những ý nghĩa kì lạ, vì, như Shakespeare viết, thế gian như thể bị lật nhào, còn ngôn ngữ của họ như thể nhảy cao hơn hẳn một cung bậc.

Trong khi những kẻ khác tiếp tục nói năng lệch lạc, ngộ nhận một cách không mảy may ngờ vực, thì Romeo và Hamlet bắt đầu sử dụng những ngôn từ thể hiện chính xác tình huống.

Tình huống nào vậy? Câu hỏi ngu xuẩn. Tình huống đang có chứ tình huống nào? Toàn bộ những kẻ khác tuyệt đối không hiểu gì cả. Có việc gì vậy? Câu hỏi ngu xuẩn. Việc đang xảy ra chứ còn việc gì.

Những kẻ khác tưởng đang nói về một mức độ nguy hiểm, thậm chí gây tác hại, thậm chí bị cấm của một sự tồn tại nào đó. Nhưng chúng ta, những kẻ nhìn màn kịch từ vị trí có một không hai này, không gì làm chúng ta nhầm lẫn được nữa.

Ta thừa biết, chẳng có mức độ nào ở đây. Những kẻ khác so với Romeo và Hamlet đang sống trong trạng thái phi-tồn tại. Trong giây phút Romeo quen Julia, trong giây phút Hamlet gặp hồn của cha mình, trong giây phút thế gian bỗng lật nhào, những kẻ không có thật bỗng biến thành có thật. Và khi đã là cái có thật, họ bắt đầu nói năng và sử dụng những ngôn từ thể hiện chính xác tình huống, đúng như những kẻ hiểu chính xác tình huống

Không có bất kì một mức độ đáng sợ, thậm chí gây tai hại, thậm chí nguy hiểm nào xảy ra. Không có sự nói năng mê sảng nào ở đây. Không có tình huống càng điên bao nhiêu càng mê sảng bấy nhiêu. Đấy chỉ là người ta tưởng thế. Chúng ta, những kẻ nhìn màn kịch từ vị trí có một không hai này, chúng ta biết, những kẻ khác không đáng bàn, trong vở kịch chỉ mỗi Romeo và Hamlet là những kẻ có thật.

2

Chưa bao giờ có đủ cơ hội thuận lợi hơn để tiến hành sự phân biệt cần thiết từ lâu này. Nghệ thuật, thứ mang tính chất hình học và trí tuệ, gần như mang phong thái của Pythagoras và cổ điển, nhưng thật sự nó tồn tại từ một cảm hứng trật tự nào đó, nên bên trong nó, tỉ lệ, sự chắc chắn và một tri thức được phản ánh.

Bởi vậy nghệ thuật này có thể gọi là Orfika, không chỉ vì Orpheus tìm ra, mà vì trong Hi Lạp cổ điển châu Âu Orpheus là đỉnh cao nhất. Nghệ thuật Ai Cập cũng là Orfika, từ nhiều góc độ: nghệ thuật Tây Tạng, Trung Quốc, Toitek, Gotik, nghệ thuật Phục hưng cũng vậy.

Nghệ thuật Orfika là nghệ thuật kiềm chế, mà ví dụ lớn nhất là Yantra Đông phương. Nó sắp xếp các sức mạnh mà nó tiếp cận. Bởi vậy mục đích lớn của mọi Orfika là sự hài hòa. Và bởi vậy cổ điển Hi Lạp mang tính chất thông thái, hình học, có tỉ lệ, và bởi vậy nó bắt nguồn từ cảm hứng của trật tự, và ở cấp độ cao nhất.

Trong tất cả các loại hình nghệ thuật, bên cạnh những khoảnh khắc có sự sắp xếp, quy củ và kiềm chế còn có khoảnh khắc gợi tưởng. Đây là thứ nghệ thuật phép thuật (magia) kì bí, thứ đôi khi bùng phát, và ở châu Âu nó gần như đã hạ gục Orfika.

Nghệ thuật phép thuật không kiềm chế mà gợi tưởng. Không tri thức mà tưởng tượng. Không tồn tại trong sự hài hòa mà trong cảm hứng ngây ngất. Không tìm kiếm sự chắc chắn mà tìm đến chủ nghĩa kích động (enthuziazmus). Nó giải phóng những sức mạnh mà nó tiếp cận.

Tác phẩm điển hình là Divina Commedia - Thần khúc (Alighieri Dante, 1265-1321), một trong những đỉnh cao của nghệ thuật Orfikus. Nó sắp xếp và kiềm chế toàn bộ sức mạnh từ đáy địa ngục đến thiên đường cao nhất.

Tác phẩm phép thuật điển hình là Những con quỷ của Dostoiepxki. Đây là tác phẩm, trong đó nhân vật Stavrogi đang nói chuyện bình thản với vị tướng, bỗng nhiên không lí do và hoàn cảnh đặc biệt nào, đứng lên, bước lại gần và cắn vào tai ông ta.

“Âm nhạc nói chung là một sự khủng khiếp - Tolstoi viết - nó là cái gì mới được cơ chứ? Tôi không biết. Âm nhạc là cái gì? Nó làm gì? Người ta nói âm nhạc tác động khủng khiếp, nhưng tuyệt đối không bằng cách nâng cao linh hồn. Không tác động bằng cách nâng cao hoặc hạ thấp linh hồn, mà bằng cách kích động linh hồn. Dưới tác động của âm nhạc, có vẻ như tôi hiểu cái tôi không hiểu, tôi có khả năng làm một cái gì đó tôi không có khả năng.”

Những lời nói trên đây của Tolstoi đặc trưng cho âm nhạc phép thuật của Beethoven. Âm nhạc tác động linh hồn bằng cách kích động. Không nâng linh hồn lên, hoặc hạ thấp xuống mà kích động. Âm nhạc Beethoven là âm nhạc gợi tưởng, là âm nhạc phép thuật giống như tác phẩm của Dostoiepxki là tác phẩm phép thuật.

Đây là thứ nghệ thuật kích động đối ngược với nghệ thuật kiềm chế linh hồn, là thứ nghệ thuật phép thuật đối nghịch với nghệ thuật Orfika, khi tôi có khả năng làm một cái gì đó mà tôi không có khả năng, khi tôi hiểu một cái gì đó mà tôi không hiểu. Đấy là phép thuật. Đấy là sự ngây ngất, là trí tưởng tượng và là chủ nghĩa kích động.

Nghệ thuật Orfika đặt mọi vật vào vị trí của nó và tạo cân bằng, duy trì kỉ luật và tác động bằng cách nâng linh hồn lên, giống như bản anh hùng ca của Pindar (Nhà thơ Hi Lạp cổ 522 trước Công nguyên, hoặc Divina Commedia -Thần khúc, hoặc nhạc của Bach, hoặc đền thờ Panthenon (Hi Lạp cổ) hoặc tranh của Raffael.

Nghệ thuật phép thuật là thứ nghệ thuật gợi tưởng đến bề sâu và phá vỡ sự cân bằng, tác động đến linh hồn một cách kích động, như vở Faust, hoặc những bản sonett của Beethoven, tranh của Van Gogh, tượng của Michelangelo.

Biểu tượng của nghệ thuật Orfika là pha lê, còn của nghệ thuật phép thuật là dòng nước xoáy.

Orfika là câu nói sau đây của Thánh Kinh: "Ban đầu Thượng Đế tạo dựng lên trời và đất".

Phép thuật là câu nói sau đây của Tolstoi: "Đời sống chỉ bắt đầu khi con người không biết cái gì sẽ tới."

Khi Romeo làm quen với Julia, và khi Hamlet gặp hồn của vua cha, cùng lúc và đột nhiên, trong một khoảnh khắc họ từ trạng thái kiềm chế bước sang trạng thái kích động. Những mối quan hệ trong sự tồn tại của họ biến đổi trong giây lát. Không sống trong tinh thể pha lê nữa mà trong dòng nước xoáy. Thế giới bị lật nhào, Shakespeare nói.

Đấy là chủ nghĩa kích động (enthuziazmus), đấy là trí tưởng tượng và niềm cảm hứng. Không bao giờ còn trật tự nữa. Tôi đã hiểu một điều gì tôi không hiểu. Đời sống chỉ bắt đầu nếu tôi không biết cái gì sẽ xảy ra.

Romeo và Hamlet nhận ra một điều gì đó có tính chất quyết định. Những người khác cân nhắc và tính toán một cách sai lầm, họ thu hẹp, tàn úa và phủ nhận. Cái gì? Câu hỏi ngu ngốc. Cái đang có. Hình như Romeo và Hamlet bị điên thật sự. Không đúng. Đời sống chỉ bắt đầu khi con người không biết cái gì sẽ tới.

Sự tồn tại không có tác dụng vỗ về. Tuyệt đối không nâng lên mà kích động. Con người đột nhiên tin rằng nó có một khả năng mà nó không có. Không bao giờ còn trật tự bình an, và kỉ luật, sự hài hòa, quyền lực kiềm chế nữa. Trái lại có một sự mê sảng, say đắm, một sự gợi tưởng, và chủ nghĩa kích động, và phép thuật, và cảm hứng ngây ngất.

3

Bây giờ ta nói đến những nhân vật lớn của sự sống người. Một nửa nguồn gốc của những nhân vật này, cứ cho là người mẹ, là niềm cảm hứng của dòng nước xoáy. Hay ở nhân vật của Shakespeare, cứ cho đấy là người cha.

Một từ ngữ cơ bản: vaulting ambition. Có thể dịch là sự hãnh tiến, là bản năng quyền lực, là kẻ nuôi mộng lớn. Các nhân vật điên rồ nhất của lịch sử là như vậy: Richard III, Macbeth, Antonius, Caesar và Coriolanus.

Bản năng quyền lực có một logic đặc thù. "Befehlen ist Seligkeit" (Ra lệnh là một hạnh phúc) như Goethe nói. Một sự ngây ngất không diễn tả nổi, khi con người ra lệnh. Trở thành quyền lực. Có thể biến thành kẻ say cuồng khi được ra lệnh.

Richard III chắc chắn biết nhiều về điều này. Macbeth còn biết nhiều hơn. Nếu kẻ nào đứng chắn đường họ, họ giết. Nhưng nếu ai biết về vụ giết người này, cần phải giết nốt kẻ ấy. Máu, máu. Vẫn luôn luôn có kẻ đứng chắn đường và vẫn luôn luôn có kẻ biết một điều gì đó, vẫn luôn luôn cần sợ một kẻ nào đó: cần phải giết tất cả. Đấy là vaulting ambition.

Giờ đây có quá nhiều kẻ đứng chắn đường và cần phải sợ quá nhiều kẻ, bởi vậy không thể làm gì khác ngoài việc giết, giết liên tục. Đấy là bản năng của quyền lực. Giết Duncan, nhưng vì thế, cần phải giết cả Banquot, cần phải giết con người này bởi vậy cần phải giết toàn bộ gia đình Macduff. Quyền lực rốt cuộc khi nào trở nên vững chắc? Đấy là vaulting ambition.

Trong màn đầu tiên của vở kịch Timon ở Athen của Shakespeare, Timon sống trong sự điên cuồng của quyền lực, y giàu có, đầy thế lực, cai trị và ra lệnh. Nhưng khi đánh mất gia tài, ngay phút ấy y bị tất cả mọi người bỏ rơi. Đấy là nhân vật Timon ở Athen của Shakespeare, kẻ nhìn thấy không một tế bào nào của thế giới lại không thẩm thấu cơn khát quyền lực.

Đến đoạn giữa của vở kịch, khi Timon còn lại một mình, bị bỏ rơi, nghèo khổ, bị khinh bỉ, kẻ ăn mày trong một khu rừng, y không là gì khác ngoài hình ảnh một sự phê phán thế giới điên cuồng của quyền lực. "Tất cả xiên lệch, không có đường thẳng trong thế gian xấu bẩn của chúng ta, chỉ có sự bất lương là thẳng". Y sống trong hang đá, ăn rễ cây và nhảy múa làm trò chống lại vaulting ambition.

Đây là sự phê phán của Macbeth và Richard III và Caesar.

Timon là: Madman so long, now a fool (Điên quá lâu, bây giờ là kẻ ngốc).

Timon là cái quá độ duy nhất có thể giữa tham vọng và một cái gì vượt qua tham vọng. Cái gì là cái vượt qua tham vọng? Điên quá lâu, bây giờ là kẻ ngốc. Anh hề-Arlequin.

Là con người duy nhất chiến thắng sự điên cuồng của quyền lực. Là kẻ duy nhất cầu nguyện cho người sống trên thế gian bằng những lời lẽ khác thường: "the plague of company light upon you" (bệnh lây lan dân chúng hãy rơi vào mày).

"Tao chỉ có một niềm kiêu hãnh duy nhất: tao không phải là mày. Nếu tao trong sạch, tao nhổ vào mày."

Đây đang nói về các nhân vật lớn của nhân loại. Một nửa nguồn gốc của loại nhân vật này là sự ngây ngất của dòng nước xoáy. Một nửa nguồn gốc của loại nhân vật này là sự chiến thắng, sự hãm phanh nỗi điên cuồng của quyền lực "Điên quá lâu, bây giờ là kẻ ngốc."

4

Bản năng quyền lực tưởng rằng, trên đỉnh thế gian là ngai vàng của Đấng Toàn Năng và nó muốn ngồi vào đó. Đồ ngu xuẩn. Tại sao anh hề lại cười nhăn nhở? Bởi anh hề biết rằng Thượng Đế không ngồi trên ngai vàng. Ngai vàng để đó.

Truyền thống cho rằng Thượng Đế tạo ra ngai vàng trong ngày đầu tiên tạo dựng thế gian tại Araboth, trên thiên đường cao nhất. Nhưng Ngài không bao giờ ngồi trong đó. Ngài cho phép Sabbath - Ngày Lễ vào ngày thứ Bảy - được ngồi trên ngai vàng.

Cả Trái Đất chỉ anh hề biết điều này.

Kẻ đầy tham vọng ngu xuẩn tưởng Thượng Đế mình khoác áo choàng tay cầm thiên trượng ngồi trên ngai vàng, và ra lệnh, với niềm tin: "Ra lệnh là hạnh phúc". Chỉ những kẻ đầy tham vọng mới tin rằng ra lệnh là cảm hứng ngất ngây lớn nhất trên trái đất.

Anh hề cười lăn lộn và không giấu nổi sự giễu cợt. Nếu được dâng ngai vàng anh hề sẽ đặt lên đầu mình cái mũ gắn chuông, sẽ cười hô hô hô, sẽ đứng lên cái tay vịn của ngai vàng và chếch cái mũi dài ra khoe.

Thật khoái trá khi nhìn những kẻ chạy xuôi ngược lưỡi thè lè tranh giành và giẫm đạp lên nhau, những kẻ phản bội và sát thủ, những kẻ vàng vọt đến tận xương vì ghen tị và sôi lên vì trả thù, thật là cảnh hài hước địa ngục cái gọi là lịch sử, với sự cuồng dại mất trí vì ngai vàng, hay đúng hơn vì quyền lực.

Quyền lực thế gian không phải là Thượng Đế mà là thần tượng. Ngai vàng! Quyền lực! Có thể nếu một lần cần phải tự giải trí, Thượng Đế sẽ cho phép một kẻ nào đó ngồi lên ngai vàng. Có thể ngài trao vai trò này cho một kẻ Chống Thiên Chúa. Sẽ cực kì hài hước, ta sẽ tha hồ cười đến chừng nào hết chịu nổi.

Anh hề cười nhăn nhở. Như thể cũng muốn ngồi lên ngai vàng, như hết thảy, và tin rằng có thể biến thành kẻ độc tài và ra lệnh. Ra lệnh là hạnh phúc.

Anh hề đứng ngoài tham vọng. Chàng ta học được bài học từ Timon rằng trên thế gian này tất cả đều cong, chỉ sự bất lương là thẳng. Nhưng anh hề không nhún nhảy. Anh hề đứng ngoài tham vọng. Đứng ngoài lịch sử. Một con người không thay thế được. Kẻ không có đôi.

Vua Lear già hiểu điều đó, và ngài không thể thiếu chàng ta một giây. Khi anh hề không có đó, vua kêu lên: Thằng điên của ta đâu? Chàng hề của ta đâu? Ê! Như thể cả thế giới ngủ yên! Vua Lear già biết rằng không có sự yên ổn nào lớn hơn ở bên cạnh một kẻ chẳng những không muốn ngồi lên ngai vàng, mà còn cười vào mũi những kẻ muốn đẩy hắn lên ngôi.

"Anh hề đây, châu báu đây" - Goethe đã nói.

Đây là châu báu giấu kĩ, là tiếng cười dành cho thần tượng và những kẻ sùng bái thần tượng. Đây là giọng cười lớn và khoái trá trên cái không là gì của bản năng quyền lực. Đây là anh hề. "Chẳng há đây là một anh chàng không hiếm hoi, thưa ngài?" (He is as good as anything and yet a fool).

Đây là anh chàng hiếm hoi nhất của thế gian và là một trong những nhân vật lớn của nhân loại. Một kẻ vô cùng đặc biệt, như những kẻ điên khùng khác, như một anh hề - Arlequin.

5

Thân sinh của Arlequin - anh hề, mẹ chàng, là cảm hứng của dòng nước xoáy. Đời sống chỉ bắt đầu, khi con người không biết, cái gì sẽ đến. Thân sinh kia của Arlequin - anh hề, cha chàng, là giọng cười dành cho bản năng quyền lực.

Điên đã lâu, giờ đây thành đồ ngốc. Arlequin nói năng giống Romeo khi quen Julia, như Hamlet sau khi đã gặp hồn ma của vua cha. Các mối quan hệ trong sự tồn tại của họ thay đổi. Họ tạo ra những lối chơi chữ, sử dụng những từ ngữ quái gở, và còn quái gở hơn khi sử dụng cái lưỡi, khi khoe cái mũi dài và lắc chuông đeo trên đỉnh mũ, vẫn giống hệt những người khác, nhưng thêm vào tính chất điên.

"Thật tai hại, khi một thằng điên không biết nói lấy một câu thông minh, khi bọn thông minh điên rồ như thế."

Thế là đủ. Giờ đây ta cần đi thẳng vào bản chất của vấn đề. Arlequin là một nhân vật chính của sự sống con người và là một trong những anh chàng hiếm hoi nhất của thế gian. Tại sao? Tại Arlequin là nghịch lí? Không. Hoàn toàn không như vậy.

Logic ngôn ngữ của Arlequin là nghịch lí. Tại sao? Tại vì nó ngược đời? Giải thích như vậy quá ít. Nhưng: đúng là Arlequin - anh hề nhận thức được rằng logic của sự tồn tại là nghịch lí.

Trước tiên chàng ta từ bỏ tình huống đấu tranh. Không tham dự cuộc tranh đấu vì quyền lực. Giọng cười của chàng ta cũng là dấu hiệu của sự bất hợp tác này, như cái mũ đính chuông leng keng và những câu tiếu lâm cùng những trò hề.

Arlequin không phải kẻ đầy tham vọng. Chàng ta không buộc mình vào của cải, chức tước, lí thuyết, vào ăn ngon mặc đẹp cũng không, chả thiết bất kì một loại nghề nghiệp hoặc tri thức nào. Chàng ta không chinh phục bất cứ ai.

Arlequin - anh hề Tự do. Bởi vậy chàng ta là một trong những nhân vật chính của sự sống và vì thế hiếm hoi. Giọng cười của anh hề cũng là một dấu hiệu của tự do, giống như cách chơi chữ và trò nhào lộn cùng giọng cười ha ha-hô hô. Một kẻ từ bỏ tình huống tranh đấu, kẻ ngồi phệt giữa phiên chợ giời, và thiu thiu ngủ sau một trận quay cuồng nhảy nhót, kẻ đó tồn tại trong một hoàn cảnh nghịch lí.

Ở Tây Tạng người ta nói tinh thần giống như con lạc đà. Nếu định ghìm cương nó lại, nó sẽ chạy mười phương cùng một lúc, nhưng nếu để mặc nó, nó không buồn động đậy.

Logic của tinh thần là nghịch lí, bởi logic của sự tồn tại là nghịch lí.

Không ai dám sống một mình, số đông phần lớn vì thế cố tham gia, cố hòa hợp, nịnh bợ, giải thích, mặc cả, dối trá, kéo bè cánh, hùn hạp. Cộng đồng không được gây dựng do bản năng huynh đệ, mà cộng đồng được tạo dựng cho cá nhân, bởi nỗi sợ hãi phải sống một mình.

Không ai dám sống một mình. Người ta nghĩ ra đủ trò để giữa họ có một cái gì chung với nhau. Họ bám chặt vào nhau bằng cả mười đầu ngón tay, và cũng bằng cách ấy họ tách rời nhau rất nhanh. Há chẳng đặc biệt sao? Nếu một người nào đó bảo mình đang cô độc, trong một giây nỗi lo sợ đó biến mất vì trong một giây đó trong cộng đồng ai cũng muốn gặp hắn.

Tại sao? Tại logic của cộng đồng là nghịch lí như logic của sự đơn độc là nghịch lí, và logic của ngôn ngữ là nghịch lí bởi logic của sự tồn tại là nghịch lí.

Linh hồn cũng nghịch lí, bởi trong tận cùng sâu thẳm, nó không phải con thú mà là ngọn lửa trời trong sạch. Lịch sử cũng nghịch lí, bởi thuở khai thiên lập địa không phải từng có người rừng và loài vượn gorilla, mà từng có một thực thể mang trí tuệ phát triển cao.

Sự sống con người và các nguyên tử thực thể của nó là những sự trong sạch nguyên vẹn, giống như tư tưởng và lương tâm đầu tiên, và tình yêu thương.

Nếu mi bắt mi chống lại tính cách của chính mình, nó sẽ trả thù. Tính cách bị lăng mạ kiểu gì cũng trả thù.

Nhưng nếu cưỡng bức chống lại cái tinh thần của mi, nó không trả thù. Cái tinh thần bị lăng mạ im lặng, im lặng sâu sắc, không động đậy, không trả lời, không lên tiếng, không ra hiệu, và không trả thù. Đấy là sự trả thù của nó.

Tại sao? Tại logic của tinh thần là nghịch lí. Arlequin sống trong nghịch lí này. Ở bên ngoài lịch sử, hay nói đúng hơn ở giữa trọng tâm của lịch sử. Một cách khác thường, đồng nghĩa với ý nghĩa logic nghịch lí, trong một số phận cho phép tưởng tượng ra thế nào cũng được. Không có nghiệp, hay đúng hơn là thứ nghiệp mở đối với chàng ta. Prepared for all events - Chuẩn bị cho tất cả các tình huống có thể. Trong không điểm, hay là điểm sôi. Tại sao? Tại logic của sự sống là nghịch lí.

Con người giật mình nếu thấy một kẻ khỏe mạnh, vui vẻ, vô tư, một kẻ thích cười đùa, trêu chọc, ăn ngon, ngủ kĩ khiến họ không yên. Họ tưởng họ sẽ bị mất phần, nếu thấy một kẻ sung sướng. Họ tưởng nếu có một kẻ sống mạnh mẽ hơn họ sẽ bị thiệt phần sống. Bởi thế, cần phải ghen tị với nó, cần phải tiêu diệt nó. Bởi vì nó sống mất phần của hàng trăm kẻ khác nữa.

Thực ra, ngược lại thì đúng hơn. Nếu một kẻ nào đó sống tích cực hơn ta, những sức mạnh lớn hơn được giải phóng từ người ấy khiến cuộc sống của ta cũng mạnh lên, sâu sắc hơn và nâng cao hơn. Đời sống không thể hết. Không thể sống hết đời sống dành cả cho kẻ khác nữa. Đời sống, càng cho đi nhiều bao nhiêu, sự sung túc của nó đổ về càng tăng lên bấy nhiêu. Tôi sống càng tích cực bao nhiêu, tôi càng tạo nhiều khả năng bấy nhiêu cho người khác cũng sống tích cực như thế, để sự xuất hiện những con người mạnh mẽ, vô tư và khỏe khoắn cũng tăng lên bấy nhiêu.

Logic của đời sống là nghịch lí, bởi logic của ngôn ngữ, của sự cô đơn, của cộng đồng, của số phận và tinh thần là nghịch lí.

Cảm hứng của nhà thơ là trạng thái tất nhiên của đời sống? Đúng. Chủ nghĩa kích động là trạng thái tất nhiên của đời sống? Đúng. Tại sao? Bởi logic của sự sống là nghịch lí. Kẻ điên là kẻ thông thái? Kẻ thông thái điên? Anh hề là kẻ thông thái? Đúng. "Thật tai hại, khi một thằng điên không biết nói lấy một câu thông minh, khi bọn thông minh điên rồ như thế."

Không có thực thể nào thông minh hơn một anh hề. Trạng thái bình thường của đời sống là sự điên rồ. Tinh thể xoáy. Đúng ra mà nói, kẻ ăn nói đúng đắn nhất là kẻ mê sảng. Bởi vậy kẻ bị bản năng quyền lực quắp lấy, tiêu phí cuộc đời vào đó, sẽ đánh mất toàn bộ. Bởi vậy kẻ ngồi bệt bên đường quốc lộ và thiu thiu ngủ, kẻ đó thắng trọn vẹn.

Đời sống chỉ bắt đầu, nếu con người không biết cái gì sẽ tới. Đời sống không có tác động vỗ về. Bởi vậy Thượng Đế tạo ra ngai vàng nhưng không hề nghĩ đến việc ngự trên ngai vàng. Bởi vậy Arlequin - anh hề cười nhăn nhở trên cả thế gian hài hước này.

Sự sống thể hiện theo hướng kẻ nào định giữ nó lại thì nó bốc hơi trên tay kẻ đó, nếu đem gieo rắc khắp nơi, sự sống giàu có sẽ ngả vào lòng nó. Thế gian không biết điều này.

Và bởi thế Goethe nói: Die Welt ein einzig grosser Tor - Thế gian là thằng điên duy nhất, lớn nhất, Foolery does walk about the orb, like the sun, it shines everywhere - Sự điên rồ dạo chơi tự do trên thế gian, như mặt trời chiếu sáng khắp nơi.

Còn Arlequin - anh hề là kẻ tỉnh táo duy nhất.

6

Tất nhiên nơi nào xuất hiện một con người như vậy, nơi đó sẵn sàng cho một vụ bê bối. Nhân gian không chút nghi ngờ gì về bản chất nghịch lí của sự sống. Chỉ ở những khía cạnh nhạy cảm, người ta cảm thấy, có một cái gì đó không ổn trong toàn bộ.

Ví dụ người ta tưởng nhiều là thế mạnh, mà không biết rằng một cái gì đó càng nhiều, càng yếu. Thế gian tưởng điều được nhiều người nói, đấy là điều đúng. Ví dụ, vì tất cả mọi người điên rồ nên một kẻ tỉnh táo, đấy là một thằng điên, cần phải đánh cho nó một trận.

Cả thế gian không hề biết rằng, họ nằm trong trạng thái phi- tồn tại đối với Arlequin - anh hề, như các nhân vật khác của vở kịch so với Romeo và Hamlet Arlequin tồn tại, và những kẻ khác so với chàng hề, không hề tồn tại.

Khi chiến tranh Peloponnesos nổ ra ở Athen, thiên hạ ầm ầm chuẩn bị. Người ta hớt hải xuôi ngược, phô trương vũ khí, dồn thúc đám đông, từ biệt lẫn nhau, kêu gào xô đẩy. Arlequin - anh hề già có tên Diogenes thấy vậy bèn lăn một thùng đựng rượu trên một đường phố chính. Lăn về phía trước mười vòng, lăn ngược về phía sau mười vòng. Một cách cực kì hoan hỉ và mẫn cán.

Thằng hề kia làm cái gì vậy? - Người ta hỏi. Tôi nhìn thấy mọi người hớt hải chuẩn bị - Arlequin trả lời - tôi cũng không muốn bị tụt hậu.

Logic của sự tồn tại là nghịch lí. Khi Thượng Đế tạo ra con người, Ngài cũng tự thấy ngạc nhiên. Thượng Đế nói: Ta đã tạo dựng trong thể xác nó có cả tinh thần, bởi vậy trong tinh thần nó cũng có cả thể xác (Jacques Benigne Bossuet viết)

Bản thân sự tồn tại cùng lúc vừa là chủ thể vừa là đối tượng. Bởi vậy nó nghịch lí. Cái khoảnh khắc con người chủ thể biến bản thân mình trở thành đối tượng, khoảnh khắc đấy là ngôn ngữ. Bởi vậy nghịch lí là ngôn ngữ. Bởi vậy nghịch lí là cái tôi.

Tôi trong nhân danh tôi là tôi, nhưng không phải vì tôi, không thế chỗ và không thay thế được tôi. Bất kì ai cũng có thể làm bất cứ cái gì thay tôi, nhưng không ai tồn tại thay tôi và không thể nói họ là tôi khi nhân danh tôi. Nhưng nếu tôi cho rằng tôi chính là tôi, tôi sẽ đánh mất chính bản thân mình và sự tồn tại của tôi cũng mất. Nhưng nếu tôi cho đi chính bản thân tôi, tôi sẽ thắng cuộc và sự sống của tôi trở nên giàu có.

Không thể tưởng tượng bê bối nào nhức nhối hơn khi Arlequin bước vào cái thế giới đầy tham vọng, giữa buổi ăn mừng ánh hào quang giả dối của lũ sát thủ và quân phản bội. Toàn bộ những Richard III, những Macbeth, những Caesar và Antonius đều sững sờ.

Một kẻ dám đến đây, kẻ không hề có chút lí luận cũng như cái gọi là mục đích sống, kẻ không có ý định trở thành một thị dân mẫu mực, kẻ cười vào đạo đức và không hề tôn trọng đám giàu có lẫn đám có quyền lực. Thật là một kẻ kì quái!

Till Ulenspiegel, khi từ trên núi xuống, khóc, bởi nghĩ rằng, cần phải đi lên, và khi đã đi lên, cười, bởi nghĩ rằng sẽ lại phải đi xuống. Có thể làm gì với một kẻ điên-một anh hề như vậy?

Pie Đại đế bước đến gần Diogenes và bảo: Hãy cầu xin một điều gì đi, ta sẽ cho. Arlequin - anh hề già trả lời: Nhà ngươi hãy đứng sang một bên, đừng che mất bóng nắng.

Xua đuổi hề? Chàng ta cười. Không cho hề ăn? Chàng ta cười. Chế nhạo hề? Chàng ta cười. Đánh cho hề một trận? Chàng ta cười nhiều hơn. Khóa trái hề lại? Là lúc chàng ta cười khoái trá nhất.

Cái gì vậy, tại sao lắm kẻ sợ ta đến thế? Cả thành phố, cả một quốc gia sợ. Các vị vua, những cố vấn rậm râu, các tướng lĩnh, cảnh sát và lũ giàu có, tất cả đều sợ anh hề. Các bà mẹ giấu vội vã các cô con gái. Người ta hạ lệnh cho lũ con trai trốn xuống nhà kho. Các nhà bác học bực bội, các vị linh mục quay lưng. Thật là bê bối. Tại sao vậy?


Khái niệm về Anima (ẩn nữ) của đàn ông theo Carl Jung

Carl Gustav Jung   (26/7/1875 - 6/6/1961) là một bác sĩ tâm lý học, tâm thần học người Thụy Sĩ. Nổi tiếng với việc thành lậ...