Thứ Hai, 16 tháng 1, 2023

Ta không còn hứng thú với con chữ, hay lời nói.

Ta buông chúng xuống. Tuy nhiên, tại sao ta buông xuống nhưng vẫn dùng câu chữ truyền đạt lại cho người?

Bởi vì đó là công cụ cho người.

Cũng như tiền là công cụ, đam mê tiền quá là không tốt; tương tự với con chữ, và công cụ con người nói chung.

Chúng ta hãy để nó là một phương tiện truyền đạt và diễn giải để cùng đi sâu hơn vào trong chính ta, Nhận Thức.

"Words are mere words. "

Những con chữ hay lời nói hay, đều có thể xuất phát từ cái tay, cái miệng bất kỳ. Vậy nên, thật vô ý nghĩa khi cứ phải tiếp tục chú tâm vào nó, ai cũng có thể bắt chước, điều đó khiến Sự Thật chìm xuống chẳng ai đoái hoài đến, lại tiếp tục vòng lặp của vô minh.

Mỗi khi giải pháp xuất hiện cho một vấn đề, tưởng chừng như xiềng xích được hoá giải, tưởng chừng như đã có thể thoát khỏi sự vô minh. Nhưng không, vòng lặp mới tiếp diễn, thậm chí rắc rối hơn nhiều.

Cần ngọn đuốc để đi ra khỏi vòng lặp vô minh.

Thế nhưng, Thần Vương từng nói:

"Nếu không có ngọn đuốc trong đêm tối, thì sao con người có thể thấy được lối đi

Và nếu như ngọn đuốc được đốt dưới ánh sáng mặt trời, thì liệu nó sẽ soi sáng được gì."

Nay ánh sáng ngập tràn, ai cũng khẳng định mình là ánh sáng. Cần có bóng tối trỗi dậy.

"Cần có bóng tối để thử thách ánh sáng."

Những người tìm kiếm, hay người tìm kiếm chân lý, những quang tử nhân, các ngôn sứ, nhà truyền giáo đều là những lực lượng ánh sáng lan toả.

Những con chữ các vị lan toả, rất đỗi thuyết phục, rất đỗi hợp tình. Đó là Nhân Đạo. Nhân Đạo là, sự thiện chí đối với sinh mệnh.

Nhân Đạo của con người nói riêng lại là cái gì đó dễ thay đổi. Quý vị thấy, ở các cấp độ nhận thức khác nhau cùng một câu nói sẽ cho ta câu trả lời khác, cách hiểu khác; ngôn từ vốn khách quan, chủ quan là chúng ta. Vì vậy, mục đích chúng ta ở đây và thực hiện, là để lại di sản vĩnh hằng. Để con người tiếp tục suy nghĩ, đừng ngừng suy nghĩ. Hãy tiếp tục thay đổi tới khi ta ngừng đổi thay.

Nếu ta ngừng nghĩ, ta chết.

Thần Vương, như đã nói:

"Hãy tìm tới Cung Điện nhà Vua, ở đó, hãy đặt ngọn đuốc xuống, cùng tới vùng đất của Ngài, nơi Suối Nguồn tuôn chảy, nơi để dành cho các giác quan người và trạng thái hạnh phúc cực đại."


Thứ Sáu, 2 tháng 12, 2022

Điều ta mong muốn,

Chúng ta luôn ngập tràn trong những mong muốn

Ta muốn tâm hồn ta thanh thản

Càng muốn ta càng chẳng thấy gì.

Vì vậy mà ta.

Không đấu tranh, dã từ đao kiếm

Bỏ cuộc đi, thôi làm gì nữa

Những hư danh, hư ảo ở đời,

[Ta vốn không tranh với đời.]

Chờ chết ư, không phải như vậy

Bởi 1 lẽ thường tình trên đời này

[Không gì là của ta, tự ngã không là ta.]

Cuối cùng ta là gì

Những cái gì sinh ra và chết đi, được định sẵn số mệnh chịu sự hủy diệt là cái khổ

Cái gì khổ đều là vô thường

[Cái gì vô thường là vô ngã.]

Chẳng gì là của ta, sinh ra mà tranh đoạt

Để cuối cùng nhận ra

[Chẳng gì là của ta.]

Con cháu ta hẳn sẽ hưởng phúc đời đời,

Đó không phải điều ta muốn

Bởi ta muốn cái trường tồn rằng:

[Ta muốn con người tồn tại mãi về sau.]

Tiền đồ vô lượng

Phép màu vô biên

Cái đó chẳng là gì, so với việc

Ngày ta biết mình, rằng:

[Ta chính là ta.]

Những ngôi sao kia hẳn đang rất buồn, vì con người chẳng còn mấy đoái hoài đến

Nhưng rồi vì sao sẽ dẫn lối,

Dẫn đi đâu?

[Đi tới sự thật vĩnh hằng.]

Ta sẽ đi tới khi đôi chân ta mòn mỏi

Ta sẽ tiếp tục làm đến khi chẳng còn gì để làm nữa

Các con đường mở ra, cổng trời lần nữa cho ta thấy

[Tự Do.]


Thứ Ba, 16 tháng 11, 2021

Đạo bất đồng bất tương vi mưu (share)

Đọc thêm tại: https://daoduckinh.com/dao-bat-dong-bat-tuong-vi-muu/

Giải nghĩa câu: “Đạo bất đồng bất tương vi mưu ”

Câu này có xuất xứ trong Luận Ngữ, Chương Vệ Linh Công, nguyên văn như sau子曰:‘道不同,不相为谋’ (Tử viết: Đạo bất đồng bất tương vi mưu)

Câu này có một số cách hiểu như sau:
1. Không cùng chí hướng thì không thể cùng nhau mưu sự nghiệp được. Nghĩa này giống câu: chim sẻ sao biết được chí chim hồng.

2. Tư tưởng, quan niệm khác nhau thì không cùng nhau bàn luận trao đổi được. Nghĩa này thường gặp các tư tưởng tôn giáo khác nhau luôn chê bai đả kích lẫn nhau.

3. Nghề nghiệp khác nhau không thể đàm đạo cùng nhau được.

VD: bác nông dân thì chỉ biết nói chuyện về lúa ngô khoai sắn, anh thợ sửa xe thì chỉ biết nói chuyện về bu-gi bu-lông ốc vít, 2 người ngồi với nhau không có tiếng nói chung, không thể đàm đạo được.

Nói chung nghĩa 1 là phổ biến nhất, dùng rộng rãi nhất.

Ý nói người không cùng quan điểm, chí hướng thì không thiểu nói chuyện, thương lượng hay đàm đạo được.

Người xưa nói, phàm là chuyện lớn muốn được thành công thì đều phải chung một 1 đích, Nhưng nếu cố chấp để coi rằng mục tiêu đó là chung mà cố làm thì ắt sẽ gây ra đại họa, đau khổ và bất hạnh đến nhau. Đó là ý nghĩa câu này.

Cũng như, nhớ về câu chuyện người xưa vẫn kể cuộc gặp gỡ giữa 2 vị thánh nhân Khổng tử và Lão Tử:


Vào một ngày trong năm 538 trước công nguyên, Khổng Tử nói với đệ tử là Nam Công Kính Thúc rằng mình muốn đi bái kiến Lão Tử. Hiển nhiên, đề nghị này của Khổng Tử được Nam Công Kính Thúc đồng ý, đồng thời lập tức báo lên quốc vương của nước Lỗ.

Vua Lỗ cho phép ông đi, đồng thười bố trí cho ông một xe, 2 ngựa kéo và đoàn người tháp tùng, Nam Công Kính Thúc cũng đi cùng Khổng Tử chuyến này.

Thấy Khổng Tử vượt ngàn dặm xa xôi đến thăm mình, Lão Tử vô cùng phấn khởi.

Ông hỏi Khổng Tử rằng: “Ông đã đắc Đạo rồi chứ?”

Khổng Tử trả lời: “Tôi đã cầu suốt 27 năm nay nhưng vẫn chưa đắc Đạo.”

Lão Tử nói: “Nếu như Đạo là một thứ gì đó có hữu hình và có thể mang dâng cho người khác, vậy thì người ta đã tranh nhau lấy đem dâng lên vua. Nếu như Đạo là thứ có thểm đem đi tặng cho người khác, người ta đã đem nó tặng cho người thân.

Nếu như Đạo có thể giảng giải rõ ràng, người ta sẽ đem nó giảng giải cho anh em của họ. Nếu như Đạo có thể truyền thụ cho người khác, người ta sẽ tranh nhau truyền nó cho con cái mình.

Song những điều nói ở trên đều là không thể. Nếu một người có nhận thức không chuẩn xác về Đạo, Đạo tuyệt đối sẽ không chạm được đến trái tim của anh ta.”

Khổng Tử nói: “Tôi nghiên cứu ‘Thi kinh’, ‘Thư kinh’, ‘Châu lễ’, ‘Châu lạc’, ‘Dị kinh’, ‘Xuân thu’, giảng thuyết đạo lý trị quốc của các vị tiên vương, hiểu rõ con đường thành công của Chu Công, Triệu Công. Tôi đã lấy đó để hầu chuyện hơn 70 quân vương, họ đều không chọn chủ trương của tôi. Xem ra họ thật khó thuyết phục!”

Lão Tử liền đáp: “Những thứ ông nghiên cứu đều là sử cũ, từ các đời tiên vương, ông thử nói xem chúng có tác dụng gì không? Thứ mà ông đang tu hiện nay cũng là thứ đã cũ.”

Sau cuộc hội thoại đầu tiên ấy, Lão Tử liền đưa Khổng Tử đi bái kiến đại phu Trường Hoành.

Trường Hoành là người rất am hiểu về lý luận âm nhạc nên đã dạy Khổng Tử về âm luật, về các lý luận âm nhạc, đưa Khổng Tử đi tham dự buổi lễ tế thần, khảo sát các địa điểm tuyên giáo… những việc này khiến Khổng Tử vô cùng cảm kích, thu nạp được nhiều điều mới lạ.

Ở lại vài ngày, ông mới xin phép cáo từ Lão Tử về nước.

Lão Tử tiễn Khổng Tử ra về, nói: “Tôi nghe nói, người phú quý lấy của cải để tặng cho người, người nhân nghĩa lấy lời nói để tặng cho người. Tôi không phải người phú quý, chẳng có của cái để tặng cho ông, nên chỉ muốn tặng ông vài lời.

Thời nay, người thông minh mà sâu sắc, gặp nạn thậm chí là họa chết người là do hay mỉa mai người khác, rước chuyện thị phi. Người giỏi biện luận lại tinh thông mọi chuyện, sở dĩ gặp họa là do quá khoa trương người khác.

Là phận con cái, đừng cho rằng mình cao hơn người, là bề tôi, đừng cho mình ở trên người, hy vọng ông nhớ thật kỹ.”

Lời dặn dò của Lão Tử ý nói, tôi chẳng có gì tặng cho ông, chỉ tặng cho ông vài câu này thôi, đó là đừng phỉ báng người khác, cũng đừng khoa trương tâng bốc người khác, đừng kiêu căng, ngạo mạn.

Khổng Tử đáp lời: “Đệ tử nhất định sẽ ghi nhớ những lời này trong tâm.”

Đi đến bên sông Hoàng Hà, Khổng Tử nhìn thấy sóng nước cuồn cuộn, khí thế như vạn mã đằng phi, tiếng vang như hổ gầm sấm dậy.

Ông đứng bên bờ sông thật lâu, bất giác cất lời cảm thán: “Nước sông chảy suốt đêm ngày không ngừng nghỉ, sinh mệnh con người cũng vậy, không biết nhân sinh sẽ chảy đến đâu đây.”


Nghe vậy, Lão Tử liền đáp: “Con người sinh ra trên đời theo lẽ tự nhiên, chết cũng tự nhiên, sống trên đời thuận theo lẽ tự nhiên, có như vậy bản tính mới không loạn, không thuận theo tự nhiên, bận bịu chìm đắm trong nhân và nghĩa, bản tính lúc nào cũng bị gó bó, trói buộc, khó có thể thảnh thơi.

Trong đầu lúc nào cũng cánh cánh suy nghĩ về công danh, tâm vì thế mà bất an, mưu lợi trong tâm, chỉ rước thêm phiền não.”

Khổng Tử liền giải thích: “Tôi vẫn lo lắng rằng, không hành đạo, không theo nhân nghĩa, nước sẽ loạn vì bất trị, ví như đời người ngắn ngủi, không thể có công với đời, không có ích cho dân thì tiếc lắm thay.”

Trầm ngâm một lát, Lão Tử liền chỉ tay xuống dòng nước trên sông Hoàng Hà nói với Khổng Tử: “Tại sao ông không học đức hạnh của dòng nước kia?”

Khổng Tử hỏi lại: “Nước có đức hạnh gì?”

Lão Tử trả lời: “Trong thiên hạ, có thứ gì mềm mại hơn nước, vậy nhưng chưa chắc kẻ mạnh đã có thể thắng thế, lấy nhu thắng cương, lấy yếu thắng mạnh, đó là thứ mà ta có thể học từ nước.”

Khổng Tử nghe vậy bất giác tỉnh ngộ, nói: “Lời của tiên sinh khiến tôi ngộ ra nhiều điều, khai thông bế tắc:

Nước chảy từ cao xuống thấp, uốn lượn quanh co nhưng có phương hướng nhất định. Nước giống như chính nghĩa, mãnh liệt mênh mông không bờ bến, cho dù rơi xuống vực sâu muôn trượng cũng không chút sợ hãi.

Nước mềm mỏng, nhưng không có gì không soi thấu, vạn vật nhập vào xuất ra nước mà biến thành tinh khiết tươi mới. Đó là cái thiện, là trí tuệ tối cao.”

Lão Tử gật đầu, đáp: “Lần này trở về, ông nên bỏ cái ngạo khí trong lời nói và biểu cảm, trừ cái chí lớn ở dung mạo. Nếu không, người chưa thấy đã thấy tiếng, thân chưa tới mà gió đã động, phô trương khuếch đại bản thân, như hổ đi trên phố, thử hỏi ai dám dùng ông?”

Khổng Tử vô cùng cảm kích, đáp: “Lời của tiên sinh, đệ tử xin tạc ghi trong lòng, cả đời không quên. Đệ tử sẽ tuân thủ không chút chậm trễ, như cách để tạ ơn tiên sinh”. Nói xong, ông cáo từ rồi cùng Nam Cung Kính Thúc lên xe về nước Lỗ.

Từ khi trở về, suốt 3 ngày liền Khổng Tử không nói một lời. Tử Công lấy làm lạ lắm, mới hỏi có chuyện gì, Khổng Tử liền đáp:

“Nếu ta gặp một người có tư tưởng phóng khoáng giống như chim bay, ta có thể dùng luận điểm sắc như mũi tên, ngắm bắn chuẩn xác và chế phục người đó.

Nếu tư tưởng của đối phương như một con hươu có thể chạy, ta có thể dùng chó săn để săn đuổi đến cùng, nhất định sẽ khiến người đó phải khuất phục trước luận điểm của ta.

Nếu tư tưởng của đối phương như một con cá bơi tự do trong nước, ta sẽ dùng móc câu để bắt cho được.

Thế nhưng, nếu đối phương có suy nghĩ, tư tưởng như một con rồng, cưỡi mây đạp gió, du ngoạn ở nơi quá hư hoặc, vô ảnh vô hình không thể chạm tới, ta sẽ chẳng có cách nào bắt được.

Ta đã gặp được Lão Tử, cảnh giới tư tưởng của ông ấy chẳng khác gì con rồng quá đỗi hư không kia, ông ấy đã khiến ta nói không thành lời, lỡ mở miệng mà không thể rút lại được, khiến tâm, thần của ta bất định, không biết ông ấy rốt cuộc là người hay là thánh. Lão Tử, quả thực là thầy của ta!”

Và sau hàng ngàn năm, những tư tưởng sâu xa, thâm thúy của Lão Tử cho đến nay vẫn là những giá trị vô giá đối với hậu thế. Lời của Khổng Tử khi xưa, thật đúng lắm thay!

Thứ Sáu, 1 tháng 10, 2021

 


1. Niềm tin là lòng tin về một thứ gì đó dựa vào nhận thức của mỗi người.

Theo từ điển thì niềm tin chính là sự tin tưởng, lòng tin tưởng. Nếu theo như thông thường, cái cách mà chúng ta nghĩ rằng niềm tin là sự tin tưởng đối với những điều ta chưa thể biết thì đó là sai lầm. Chúng ta sẽ lấy ví dụ đơn giản, một câu hỏi được đưa ra “Chúng ta có thể biết ngày mai là mưa hay nắng không?”. Câu trả lời là có, nhưng đó là với sự giúp đỡ của các máy móc, thiết bị hay hiểu biết về các dấu hiệu thiên nhiên còn với một người bình thường họ cũng chỉ đoán có thể có, có thể không, và điều này không gọi là niềm tin được. Bởi họ đâu thực sự “chắc chắn”? Trong khi đó định nghĩa ban đầu của niềm tin là “sự tin tưởng” nếu không thể tin tưởng về chính ý nghĩ của bản thân thì tuyệt nhiên nó không thể gọi là niềm tin được, vì thế đối với điều mà ta chưa xác định được thì đó gọi là đoán mò.

Lấy ví dụ lại về đồng tiền có hai mặt, khi tung hứng nó rơi xuống đất thì kết quả chỉ có một trong hai “ngửa hoặc sấp”.Thực ra chúng ta đã biết rõ là chỉ có ngửa và sấp, nhưng đã có ai dám chắc rằng đồng tiền sẽ không đứng thẳng chưa? Không sấp và ngửa, trường hợp hiếm có nhưng không phải là không thể. Khi ta biết có 3 trường như vậy thì ta biết nó sẽ chỉ là trong 3, người kia nghĩ không có chuyện đó nên khẳng định là nó sẽ chỉ trong 2 trường hợp. Đây chính là niềm tin, ta đã xác định rõ chúng nhưng việc lường trước của mỗi người là khác nhau và không biết đâu là sự thật, vì nó phải cho ra kết quả thì mới là thật. “Chúng ta vì không thể biết nó là ngửa hay sấp nên mới gọi là niềm tin”, điều này phải viết ngược lại “chính vì ta biết nó chỉ có thể là mặt ngửa hoặc sấp (hoặc cả thẳng đứng)” đây là niềm tin.

Một ví dụ khác đó là về niềm tin cho một ai đó, chúng ta vốn không thể biết được tâm địa của ai đó là tốt hay xấu, điều này là chắc chắn, những gì ta bàn tán về một người chẳng qua cũng chỉ là những cảm nhận riêng. Làm thế nào ta có thể nói một người đang giúp cụ già sang đường là tốt? Cũng như làm sao ta có thể nói một người vừa đánh trẻ con là xấu? Có thể là đang vội nhưng vì đông người nên anh ta cũng ngậm đắng mà giúp, có thể đứa trẻ hỗn láo mà người kia phải đánh. Và khi ta có nhận thức đủ về một người ta cũng chỉ có thể nói “Tôi tin cậu ấy là người tốt/xấu”. Về cơ bản thì khi chúng ta có thông tin về một thứ chúng ta nghĩ nó là như vậy thì đó là niềm tin của chúng ta.

Vậy thì điều gì làm những niềm tin lớn như của tôn giáo không phải là một sự phỏng đoán hay sự đoán mò nào đó? Bởi vì mỗi tôn giáo đấy là những niềm tin lớn có lịch sử, có lập luận riêng của họ, đó là những niềm tin có logic riêng có thể ví dụ như Thiên Chúa giáo có Kinh Thánh, Đạo Hồi có Qur’an. Niềm tin mà không có logic thì đó là một niềm tin chết, nói thẳng ra thì nó không phải niềm tin.

Cũng từ đó có thể nói, ở cấp độ cá nhân niềm tin là những gì họ tin rằng nó sẽ là như thế dựa trên nhận thức, hiểu biết của họ.

2. Niềm tin cấu tạo nhân cách con người theo các quy luật triết học

Nhân cách con người xuất phát từ nhận thức mà trong đó bao gồm 3 thứ chủ yếu là: niềm tin, hành vi và bản chất. 

Để diễn đạt “niềm tin” như là một phần của cấu tạo nhân cách con người thì tôi xin viện dẫn các quy luật của Hegel, hay hiện đại ngày nay chúng ta biết tới là “quy luật lượng – chất, quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập, quy luật phủ định”.

Thứ nhất, là về lượng – chất, xác định được việc “niềm tin và một điều gì đó”, nếu chúng ta liên tục tin vào nó, thì nó sẽ thay đổi ta. Ví dụ, khi ta tin rằng “làm việc tốt thì mới tạo phúc cho con cháu”, tin vào điều này liên tục và thể hiện ra bên ngoài như từ thiện hay giúp đỡ người khác, cứ như vậy đến một thời điểm nào đó tự nó, hay chính ta biết đổi thành một người tốt biết giúp đỡ người khác. Hay nếu ta nhìn một người là kẻ xấu, ta đi nói xấu họ, liên tục như vậy thể hiện bằng lượng thì một lúc nào đó ta cũng thành chính kẻ xấu mà không hề nhận ra, niềm tin ở đây chính là ta nghĩ “nói xấu người đó là đúng, và họ đáng bị nói xấu”.

Thứ hai, là về quy luật mâu thuẫn, như Hegel nói thì mâu thuân là nguồn gốc của vận động, là nguyên lý của phát triển. Trong mọi sự vật hay sự việc đều có mâu thuẫn của nó, điều đó cũng có nghĩa là nếu như ta không nghi ngờ chính mình với những dòng suy nghĩ như “mình là đủ tốt chưa?”, “thế này đã hoàn hảo chưa?”, “có nên làm lại không?”,vv thì chúng ta khó có thể khá lên được. Lịch sử chứng minh rằng những ai luôn nghĩ mình hoàn hảo luôn khó phát triển cao được, trong khi đó người luôn tư duy, biết điểm mạnh yếu của mình, luôn mâu thuẫn mà thống nhất lại luôn toàn vẹn. Cũng có nghĩa, nếu như ta không đặt niềm tin của mình lên cân bàn để đong đếm thì sẽ không nhìn ra được lỗ hỏng niềm tin của mình ở đâu dẫn đến việc con người ta “luôn không hoàn hảo”, thật vậy, con người không hoàn hảo, vậy nên ta phải luôn tìm những lỗ hổng để lấp đầy làm con người ta hoàn hảo hơn, như đã đề cập thì chúng ta không nên vô hạn hóa điều gì trong thế giới hữu hạn, sự hoàn hảo cũng vậy, nó chỉ là hữu hạn mà thôi.  Dù vậy, ở Hạt Nhận Thức này, tôi chỉ đồng tình một nửa để áp dụng theo hướng tư duy của tôi. Rằng “Thế giới không mâu thuẫn, con người mâu thuẫn” về phần này thì tôi cũng xin được nêu ở phần khác.

Thứ ba, là về phủ định, khi ta bắt đầu có một niềm tin mới, thì đó là ta ở thể phủ định, ở đây chính là phủ định khách quan. Chúng ta không thể ngăn cản những mâu thuẫn nảy sinh bên trong đầu chúng ta bởi mọi thứ luôn vận động. Khi nhìn thấy một sự vật, hiện tượng ta đã lập tức có những suy nghĩ về nó, đối với một thế giới tràn đầy thông tin thì sự mâu thuẫn trong con người càng đột biến. Từ quy luật thứ hai là quy luật mâu thuẫn thì ngay khi ta tóm gọn được suy nghĩ của mình và quyết định thì lúc đó ta đã có một tính chất để xây dựng nên Con Người Mới, và việc còn lại chính là thực hiện hóa nó bằng hành động hoặc liên tục tin vào nó, đó là lượng. Bởi vì phủ định mang tính kế thừa, cũng vì vậy khi ta đã thấu đáo suy nghĩ thì ta lại tiếp tục kế thừa “con người đã đi qua” của chúng ta, từ đó hình thành nên một con người mới, đương nhiên là ta chưa thể thấy rõ, vì lúc này đây, ta lại cũng chỉ là “lượng” trong một Con Người Mới ở tương lai xa hơn, hay đó là “Con Người Lý Tưởng”, hay con người ta sẽ trở thành.

2.1. Niềm tin cấu tạo nên hành vi của một con người.

Về niềm tin ở mỗi cá nhân, cùng là nhìn lên bầu trời nhưng mỗi người sẽ có cảm giác khác biệt, chính vì thế mà từ đó thế giới này gồm những nhóm cá nhân khác nhau, người thì thấy bầu trời như là sự tự do, người thì thấy bầu trời như là mái vòm tù ngục. 

Niềm tin là những gì tạo nên con người, cách ta hành động, cách ta nghĩ. Đầu tiên chúng ta cần thống nhất với nhau rằng niềm tin sinh ra từ ý nghĩ hay là nhận thức và cũng từ đó nó là một phần thuộc con người chúng ta, cụ thể hơn, là một phần tạo nên tính cách, nhân cách con người chúng ta. Ngay khi chúng ta lựa chọn tin vào điều gì đó, thì điều đó có nghĩa là nhận thức chúng ta đã thông suốt và chọn lựa chọn tin tưởng. Nếu như ta tin rằng làm điều tốt sẽ nhận được những điều tốt đẹp thì hành động của ta cũng sẽ tốt đẹp. “Tư tưởng phản chiếu hành động, hành động phản chiếu tư tưởng” hay như Neale Donald Walsch cũng khẳng định “Belief creates behaviors” (niềm tin tạo hành vi).

Con người thực sự là một hệ thống tổ hợp từ những niềm tin. Theo như tâm lý học thì có những quan điểm nổi bật như “trẻ sinh ra là thiện”, “trẻ sinh ra là ác”, “trẻ sinh ra là tờ giấy trắng”. Thực ra, chúng ta cần nhìn vào thực tại ngay khi đứa trẻ chào đời, chưa suy nghĩ vội sau này nó tốt hay xấu nhưng rõ ràng và thực tế một con người khi sinh ra thì sẽ không thể biết được đâu là tốt và là xấu. Nếu như chúng ta nói những ngôn từ bậy bạ trước mặt trẻ, nó sẽ bắt chước, cảm nhận riêng của tôi khi còn trẻ tôi không biết việc giết một con vật là xấu, hay việc làm phiền bố mẹ khi làm việc là xấu, cho đến khi tôi được nhắc nhở thì tôi mới biết đó là xấu vậy. Từ xưa đến nay khi chúng ta dạy trẻ chúng ta cũng thường nói với nó rằng “cái này không được”, “cái này tránh xa”, vv... Vì vậy mà đứa trẻ nếu không có định hướng rõ ràng, không được uốn nắn thì tương lai sau này đứa trẻ là người tốt hay xấu là một điều thật may rủi. Tôi xin trích lời của James Clear trong cuốn Atomic Habits.

“Chúng ta không được chọn những thói quen thuở ban đầu, chúng ta chỉ bắt chước theo chúng, Chúng ta làm theo kịch bản mà bạn bè, gia đình, nhà thờ, trường học hay cộng đồng và xã hội địa phương giao cho chúng ta. Mỗi nền văn hóa và cộng đồng này đều có những quy chuẩn và kỳ vọng riêng, ta kết hôn khi nào và ở đâu, nên có bao nhiêu đứa con, ngày lễ nào nên ăn mừng, nên chi bao nhiêu tiền trong ngày sinh nhật của con cái. Theo nhiều cách, những quy chuẩn xã họi này là những nguyên tắc vô hình dẫn tới hành vi của bạn mỗi ngày.”

Chính môi trường đang chi phối hành vi của ta, truyền thông, văn hóa, xã hội,... những thông tin cho vào đầu của ta mà nhận thức nhận lấy và rồi từ đó ta tin là như vậy, nó đã như thể ăn sâu vào máu, có nhiều thứ ta làm nhưng không cần hiểu tại sao, ví dụ, tư tưởng trọng nam khinh nữ, gia trưởng. Bản chất con người sinh ra lại không phải gia trưởng, mà nó là quá trình của học hỏi bắt chước và làm theo vô điều kiện. Người ta tin rằng đàn bà phải dưới bếp, đàn ông phải chiếu trên vì một vài nguyên do nào đó mà họ cho là hợp lý phải đạo.

2.2. Niềm tin là cốt lõi của tư tưởng và con người lý tưởng (con người sẽ trở thành) trở thành bản chất.

Lấy bản thân như là một viên đá quý và niềm tin tựa như những chất cấu thành vậy. Beryl khi chứa sắt thì là thành Aquamarine (ngọc xanh biển), nếu chứa Crom thì nó thành Emerald (ngọc lục bảo), nếu mà không chứa gì thì nó là Beryl trắng. Đến cả đá quý nếu như cùng một Beryl thiếu chất này thừa chất kia sẽ thành một loại khác thì con người còn phức tạp hơn nhiều khi trong quãng đời của mình nghe vô số thông tin, khiến họ có vô số niềm tin khác nhau. Nhưng dù nhiều niềm tin là vậy thì cũng có những suy nghĩ, những niềm tin họ đã nghĩ qua và từ đó ta có thể gặp được nhiều người “cùng suy nghĩ”, đôi khi, sự đồng suy nghĩ này nhiều tới mức khiến ta sẽ cảm thấy đối phương như là tri kỷ, như là “bèo gặp nước”. Đó cũng là một trong nhiều lý do mà khi gặp một người ta lại dễ nói chuyện và thân thuộc như bạn bè lâu năm, bởi vì phần nào đó của bản thân họ cũng như bản thân ta, tôi gọi đây là “sự đồng điệu hạt nhận thức”.

Lấy mốc bản thân khi ta còn bé, là nam thì thường thích siêu nhân và không ít người nghĩ mình muốn trở thành siêu nhân. Đó là niềm tin của đứa trẻ, và nó cũng không hề ngây thơ như cái cách ta nhìn vào một nhà triết học, một người nổi tiếng, ta muốn được như vậy, ta lấy đó làm hình tượng. Lấy ví dụ như Herbert Chavez, người Philippines, anh ta hồi bé hâm mộ siêu nhẫn tới mức độ mà lớn lên phẫu thuật 23 lần và không có ý định dừng lại. Nhưng không phải ai cũng có đủ đam mê và hâm mộ dành cho một ai hay thứ gì đó suốt một đời được.

Bắt đầu từ việc lúc là trẻ con, ta được chỉ dạy cái này cái kia. Đương nhiên, tùy tính cách đứa trẻ và phản ứng của nó, có đứa cáu kỉnh, có đứa ngoan ngoãn đứa thì lại rất bướng. Tuy nhiên, nó không phải là tính cách cố định của trẻ, việc chúng ta thêm vào đứa trẻ những thông tin khi còn bé có thể ảnh hưởng phần nào trong vô thức và tiềm thức của đứa trẻ dẫn đến sự thay đổi sau này, trên thực tế ít ai còn nhớ tới những sự việc còn bé và cũng không ảnh hưởng lớn tới suy nghĩ lúc lớn lên. Cũng bởi vậy mà con người trong cuộc đời có rất nhiều lần thay đổi tính nết, điển hình là tuổi dậy thì và lúc đi làm việc và hôn nhân.

Bản chất một người có thể hình thành sau khi hành động một lượng liên tục vừa đủ, hoặc tin tưởng một niềm tin cũng một lượng vừa đủ. Cũng ở ví dụ trên, khi con người ấy hành động gia trưởng từ những gì họ tin là hợp lý thì dần dần họ sẽ trở thành người gia trưởng, gọi là thấm nhuần. Ngược lại, nếu trong một xã hội mà ai cũng gia trưởng thì người kia tin rằng anh ta cũng phải gia trưởng thì mới là phải đạo thì không cần thông qua hành vi nữa mà từ niềm tin đó anh ta có ngay bản tính gia trưởng và từ đó hành vi gia trưởng xuất hiện.

Cái bản chất và cái hành vi luôn tác động qua lại và có mối quan hệ mật thiết với nhau.

"To be is to do"

"To do is to be."

3. Niềm tin, hành, vi, bản chất con người xuất phát từ nhận thức.

Tôi không tin vào cái bản chất tự có của con người.

Có người lấy ví dụ, “Tại sao trong một môi trường hai người cùng sống nhưng người lại phạm tội người thì giúp đỡ người khác?”, bản chất là thứ cố hữu không thể di dời và thay đổi? Sinh ra tốt là tốt và xấu là xấu.

Vậy thì phải hỏi thêm một câu nữa, “Tại sao một người tốt bỗng hóa điên mà phạm tội?”, hay chúng ta sẽ phản biện tốt chỉ là vỏ bọc bề ngoài còn phạm tội sau này chính là bản chất sau cùng?

Vậy hỏi thêm câu nữa, “Một người trước đây làm nhiều chuyện xấu,  bạo lực học đường, mất dạy với bề trên, sau này trở thành một người tốt?”, giờ lại tiếp tục luận điệu xấu là vỏ bọc bên ngoài và tốt là cái sau cùng?

Từ những điều trên cho ta thấy điều gì? Đó là chẳng cái gì cả.

Tốt xấu là tương đối, ai cũng có thể tốt và ai cũng đều có thể xấu xa. Theo tâm lý học tội phạm, thì chỉ cần đúng hoàn cảnh thì những tính cách tiêu cực sẽ lấn át phần tốt. Không thể nói một người phạm tội là xấu hoàn toàn, họ vẫn có những phần tốt, có thể là một số ít.

Bản chất không tự có. Nhưng tôi lại tin vào sự tự có của nhận thức.

Và cũng chính từ đây mới hình thành nên bản chất.

Nhận thức bậc cao hơn thì hiểu sâu sắc hơn. Còn nhận thức hời hợt thì không hiểu các giá trị đạo đức là gì.

Nói cách khác, chính nhận thức trau dồi cái bản chất. Nhưng đồng thời nhận thức có thể được trau dồi bởi tri thức.

Một người nhận thức cao không có thành tích học tập tốt nhưng lại có sự hiểu thì cái bản chất tốt sẽ được trau dồi lấy con số làm ví dụ như là 5, 6 điểm thì người đó cũng là công dân gương mẫu cho xã hội.

Một người nhận thức thấp thì học tập bao nhiêu cũng chẳng tiếp thu dẫn đến cái bản chất luôn là 0 điểm, không tiếp thu, thì làm sao mà trở nên tốt?

Một người nhận thức thấp nhưng có học tập chăm chỉ thì vẫn được bồi dưỡng phần nào đó sự thiếu sót thông qua những bài học anh ta được học.

Cái nhận thức ở đây chính là khả năng thu nhận thông tin, khả năng đánh giá tư duy. Theo Mác- Lenin thì nhận thức

“...là một quá trình biện chứng, tích cực, sáng tạo. Quá trình nhận thức diễn ra theo con đường từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng rồi từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn. Đó cũng là quá trình nhận thức đi từ hiện tượng đến bản chất, từ bản chất kém sâu sắc đến bản chất sâu sắc hơn.”

Nhận thức khác bản chất. Bởi khi ta có nhận thức bằng 0 thì bản chất bằng 0. Đó là bản chất loài thú. Nhưng ta là con người, ta có tư duy, nhận thức ta sinh ra không thể biết làm gì theo bản năng như loài thú được, nó biết nó sợ gì và trên loài nào, con người thì không. Vì thế bản chất không quyết định cái nhận thức mà cái nhận thức quyết định cái bản chất.

Tôi có câu hỏi:

“Ở đây có ai mà không cần tiền?”

Đa phần đều sẽ nói, “Có đương nhiên tôi cần tiền”

Một số ít sẽ nói thêm, “Nhưng tôi dùng tiền như phương tiện”

Có vài người nói, “Tiền là tất cả, không tiền là vô dụng”.

Chính nhận thức đã giúp ta định hình bản chất, ta biết đó là tiền và ta có nhận thức về nó, từ đó bản chất được quyết định, nó cũng sẽ chi phối luôn hành vi của ta và đó là niềm tin của ta.

Một ví dụ khác, có một người đang chết đuối, người ta sẽ làm gì?

Có người nói, “Chờ anh ta không vùng vẫy nữa rồi cứu cũng chưa muộn”.

Người nói, “Tìm cái cây dài đưa anh ta cầm rồi lôi lên”.

Vài người nói, “Tôi không biết bơi”

Có người đặc biệt hơn, “Tôi mặc kệ, tôi thấy là tôi cứu nếu không sẽ cắn rứt lương tâm”.

Có người phản ứng nhanh, có người phản ứng chậm, nhận thức tập luyện lâu dài sẽ thành tiềm thức, như một thói quen mặc định vậy. Tóm lại thì ta đã có suy nghĩ và nhận thức về vấn đề, vậy nên chính nhận thức đã quyết định bản chất.

Nó bắt đầu từ khi ta còn là đứa trẻ, khi bắt đầu có nhận thức và cũng chính nhận thức này kết nạp đủ mọi thông tin và cũng từ việc kết nạp thông tin này ta mới hình thành nên cơ sở cho cái gọi là “niềm tin”. Chính điều này cấu tạo nên nhân cách con người. Nhận thức hồi nhỏ của chúng ta không quá khác biệt, giống như lứa tuổi dậy thì, nữ giới dậy thì sớm hơn thì suy nghĩ nhận thức cao hơn nam giới, nhưng về sau nam giới lại phát triển nhanh hơn, và cũng chính ở những giai đoạn như vậy mà chúng ta thường có những sự thay đổi, có thể là thay đổi lớn. Đó cũng là lý do tại sao mà hồi trẻ chúng ta dễ thay đổi vì chúng ta không có đủ nhận thức, thông tin, tri thức và khi về già thì chúng ta đa phần kiên định vì ta đã tư duy đủ, thông tin cần thiết đã có. Nhìn lại chúng ta khi còn nhỏ, khi thiếu niên, thanh niên, bao nhiêu người sẽ nói bản thân chưa từng thay đổi?

  "Niềm tin quyết định cái bản chất và hành vi con người, trong đó niềm tin lại thuộc bộ phận của nhận thức. Điều này tạo nên sự ổn định trong nhân cách con người." Hay nói theo một cách ngắn gọn

 “Nhận thức quyết định nhân cách của một con người.” 

 

 

Thứ Tư, 12 tháng 5, 2021

Nghiên cứu về niềm tin (Theo Ths. Võ Văn Thành)

 

   Tiếp theo là về những niềm tin chung và niềm tin tôn giáo, đây là bài viết nghiên cứu nghiêm túc, ngắn gọn, súc tích mà tôi thấy nó là vừa đủ để chúng ta có cái nhìn bao quát về những niềm tin hiện tại. Bài viết là nghiên cứu của Ths. Võ Văn Thành trong bài “Thử bàn về niềm tin đời thường và niềm tin tôn giáo”, sau bài viết này sẽ là quan điểm của hạt nhận thức và cũng là tạm kết cho chủ đề niềm tin này. Xin được phép bắt đầu.


          Trong bài này, chúng tôi bàn đến hai cấp độ của niềm tin, đó là niềm tin trong đời thường và niềm tin tôn giáo. Trước hết, cần làm rõ thế nào là niềm tin, niềm tin đời thường và thế nào là niềm tin tôn giáo.

            Các từ điển khá tên tuổi như Từ điển từ và ngữ Việt Nam của GS.Nguyễn Lân, NXB TP. Hồ Chí Minh 2000, có một từ nói về niềm tin. Niềm tin = lòng tin tưởng. Việt ngữ chánh tả tự vị của Lê Ngọc Trụ, Khai Trí tái bản lần thứ I, 1972 chỉ có một chữ niềm (niệm) = lòng tưởng nhớ.

            Theo tôi, niềm tin là sự hy vọng của chúng ta vào một điều gì đó hoặc một cái gì đó mà chúng ta chưa thể xác định được nó một cách rõ ràng. Chẳng hạn, một người cầm một đồng xu trong tay sau khi tráo qua trở lại rồi nắm thành hai nắm chìa cho ta đoán trong nắm tay nào có đồng xu. Trong trường hợp đó, ta không biết nắm tay nào có đồng xu, ta có thể đoán nắm tay này có đồng xu nhưng thực tế khi mở ra thì chưa chắc có đồng xu. Theo tôi đó là niềm tin. Niềm tin là cái chưa thể xác thực được, nếu cái gì đó đã được xác thực rõ ràng, không còn phải đoán hay đặt lòng tin vào nữa thì khi đó niềm tin đã trở thành sự thật.

              Như vậy khi chúng ta biết một cái gì đó rõ ràng thì đó không còn là niềm tin mà nó đã trở thành sự thật, chúng ta không còn phải đặt cược theo kiểu Pascal nữa, tức là nhảy xuống nước xem mình có bị chết đuối hay không!

             Niềm tin trong đời thường là sự hy vọng, trông mong rất bình dị của chúng ta vào những điều trong cuộc sống giúp chúng ta siêu việt lên những khó khăn của cuộc sống hay làm cho đời sống tinh thần của chúng ta được thăng hoa. Niềm tin đời thường - từ những niềm tin của những người bình thường nhất cho đến các bậc vĩ nhân - đều có một vai trò rất lớn trong đời sống của họ. Chúng ta thử tưởng tượng một người không có niềm tin thì cuộc sống của anh ta sẽ như thế nào. Tôi tin rằng người đó khó thể có được hạnh phúc và sự bình lặng nội tâm cho dù là một phút giây ngắn ngủi và rốt cuộc dẫn anh ta đến sự tự hủy hoại bản thân, hủy hoại môi trường sống và hủy diệt cuộc sống của người khác như Eric Fromm đã viết (chúng tôi sẽ đề cập trong phần niềm tin tôn giáo)…

              Một trường hợp niềm tin khá phổ biến dẫn đến một tập tục và truyền thống đáng tự hào của các dân tộc Đông Nam Á đó là việc tin vào linh hồn của con người sau khi chết đã đưa đến tập tục thờ cúng tổ tiên mà tôi xét ở đây là tục thờ cúng tổ tiên của người Việt. Người Việt tin rằng sau khi ông bà, người thân mình mất thì linh hồn của họ vẫn thường còn mãi mãi cho nên mới có phong tục thờ cúng tổ tiên. Người Việt tin rằng, hằng năm vào những ngày giỗ kỵ hoặc lễ, Tết thì linh hồn của tổ tiên, ông bà mình sẽ về sum họp với con cháu. Đó là cơ hội để cho con cháu báo hiếu ông bà, cha mẹ; hoài niệm về ông bà, cha mẹ; tưởng nhớ tới công đức của ông bà, cha mẹ. Nếu không có ông bà, cha mẹ mình thì mình sẽ không tồn tại ở cõi đời này, do đó việc báo hiếu khi ông bà, cha mẹ còn sống là điều tất yếu phải làm và làm một cách rất hoan hỷ, tự nguyện. Ông bà, cha mẹ tuy đã mất nhưng vẫn còn quanh quẩn đâu đây xung quanh con cháu để chăm sóc chúng, khuyến khích chúng làm điều tốt, răn chúng không nên làm điều xấu. Xã hội người Việt vốn từ lâu đã xem trọng truyền thống thờ cúng tổ tiên ông bà, cha mẹ và còn xem đó là tập tục bắt buộc đối với con cháu, một trách nhiệm gia đình biến thành một phong tục nhằm duy trì cái đẹp trong xã hội.

            Khi ông bà cha mẹ mình đã chết, phải chăng là mọi thứ với họ đều đã chấm dứt, đã hết, kể cả tình thương? Không, những người con cháu vẫn rất thương nhớ không nguôi ông bà cha mẹ của mình. Tập tục thờ cúng ông bà cha mẹ là sợi dây vô hình siết chặt tình thâm giữa những người đang sống và đồng thời cũng kết nối thế giới của những người đang sống với thế giới của những người đã chết… Chết không phải là hết, mà chết là về với tổ tiên ông bà như nhà văn Sơn Nam đã từng nói: “Chết là tiếp tục sống bên cạnh ông bà cha mẹ và bao nhiêu bạn bè chết trước” [Sơn Nam 2005: 37]. Điều đó là niềm an ủi và cũng là niềm tin giúp cho những người đang sống được sống yên vui, bình lặng nội tâm, vượt qua những khó khăn của đời sống và giúp những người đang sống thăng hoa về mặt tinh thần. Niềm tin của người Việt về việc thờ cúng tổ tiên một cách thành tín nhất xưa nay vẫn là vậy.

             Chúng ta giả sử, nếu người Việt hiện nay quan niệm chết là hết và vứt bỏ tất cả những tập tục thờ cúng tổ tiên ông bà xưa nay thì có khác gì bắt chước những điều sai lầm của phương Tây vốn đã bị các nhà phê bình như Eric Fromm phê phán: “Ở thế kỷ XIX, vấn đề là Thượng Đế đã chết. Ở thế kỷ XX, vấn đề là con người đã chết.” (In the nineteenth century, the problem is that God is dead. In the twentieth century, the problem is that man is dead) [dẫn lại Minh Chi 1993: Đại cương triết học phương Đông, phần I, Đại học tổng hợp 1993].

            Câu trên của Eric Fromm cảnh báo một cuộc khủng hoảng niềm tin vào Thượng Đế của người phương Tây, khủng hoảng niềm tin vào tôn giáo truyền thống. Theo tôi, câu trên chỉ đúng với thế giới phương Tây vốn rất hướng ngoại, rất tham vọng, luôn muốn khám phá mọi thứ, thậm chí đã khai tử cho Thượng Đế như Fromm đã nói. Hay như Marx đã xem tôn giáo là “thuốc phiện của nhân dân”: “Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sanh bị áp bức, là trái tim của một thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của trạng thái không có tinh thần, tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” [dẫn lại theo Minh Chi 1995: 63].

            Bây giờ chúng ta sẽ tìm hiểu niềm tin tôn giáo. Thế nào là niềm tin tôn giáo? Ở đây xin mượn ý kiến của GS. Minh Chi viết về niềm tin tôn giáo:

            “Niềm tin tôn giáo hay trong hợp từ tín ngưỡng tôn giáo hàm ý một niềm tin ở những cái siêu nhiên, nhưng đối với tôn giáo vẫn rất hiện thực, thậm chí còn hiện thực hơn cả thế giới hiện tượng nữa, nhưng vẫn ở ngoài tầm nắm bắt của giác quan và tri thức của con người bình thường”.

             Như vậy, niềm tin tôn giáo là niềm tin trong đời thường đã được thăng hoa thành niềm tin thiêng liêng trong các tôn giáo lớn, tuy tên gọi có khác nhau nhưng Divine Ground (Thần tánh), Brahman (Đại Phạm, Đại Ngã) theo Ấn Độ giáo, Chân như, hay Phật tánh, hay Pháp thân (theo đạo Phật), Allah  (Thượng đế, Thần chủ) bởi Hồi giáo, abyss of Godhead Thần cách vô hạn (theo Gia Tô giáo, phái Huyền Bí) hoặc là bản thể của ba vị Chúa cha, Chúa con và Thánh thần, “Huyền chi hựu huyền, thiên địa chi thủy, vạn vật chi mẫu” theo Đạo giáo v.v… tất cả đều hướng vào cái siêu nhiên ngoài tầm nắm bắt của cảm quan và tri giác của con người. Niềm tin tôn giáo đã thăng hoa con người, giúp con người hướng thượng, tức hướng họ đến cái chân, cái thiện và cái mỹ.

          Các tín đồ Phật giáo tin vào Niết-bàn, xem Niết-bàn là mục đích, là khát vọng vươn tới. Các tín đồ Ấn giáo tin Đại ngã là cái ta của vũ trụ, và cái tiểu ngã là cái ta của mỗi cá nhân và tìm cách hòa hợp vào cái ta Đại ngã hay cái ta của vũ trụ. Các tín đồ Cơ Đốc giáo đặt niềm tin vào Đức Chúa Giê-su hay Thiên đường hoặc các tín đồ của đạo Hồi tin vào Đức Mahomet và kinh Koran v.v… Tất cả đều là niềm tin tôn giáo cao cả của họ.

             Trong đạo Phật, địa ngục cũng được xem là một cõi sống của những dạng chúng sinh đã tạo ra những nghiệp cực ác phải nếm trải; và điều đó đâu có gì là không tốt với mục đích khuyến khích dân chúng làm điều thiện, xa rời điều ác? Niềm tin vào địa ngục rất có ích trong việc răn ác và khuyến thiện thì tại sao không phát huy mà lại xem là mê tín? Và ở đây cần mở ngoặc nói thêm về mê tín.

            Thế nào là mê tín? Mê tín là tin đến mức mê muội và mù quáng, và sự mê muội và mù quáng đó thể hiện thành những hành vi phản xã hội, phi nhân tính, làm rối loạn trật tự công cộng, làm hỏng đạo đức xã hội, thương tổn thuần phong mỹ tục của dân tộc. Ví dụ về những biểu hiện mê tín như: tuyên truyền cho người ốm uống nước thải, nước tàn nhang, để cho người ốm càng ốm thêm, ốm đến chết. Vu cho người nào đó là có ma quỷ nhập vào rồi hành hạ người đó đến chết. Mượn lời đồng cô, thầy cúng, thầy tướng để lừa đảo những người nhẹ dạ v.v… Như vậy, chúng ta không nên lẫn lộn giữa niềm tin tôn giáo và mê tín vì chúng hoàn toàn khác nhau như đã phân tích.

             Bây giờ chúng ta hãy xem những nhân vật nổi bật nhất trong lịch sử nhân loại có niềm tin về tôn giáo như thế nào.

            Trước hết xin nói về Đức Phật lịch sử Thích Ca Mâu Ni, người đã thành lập nên đạo Phật cách đây hơn 2.500 năm. Khi Đức Phật Thích Ca tìm ra chân lý giác ngộ, Ngài định không thuyết giảng chân lý ấy không phải dễ gì ai cũng có thể hiểu được, nhưng Ngài lại nhìn xuống ao sen và suy nghĩ rằng: trình độ tiếp thu giáo lý của chúng sinh cũng giống như những bông hoa sen, có bông thì đã vươn lên khỏi mặt nước thật cao (ví như những người có trình độ tiếp thu giáo lý của Ngài thật nhanh), có những bông sen vừa mới vươn lên ngang mặt nước ví như những người có trình độ kém lớp người đã nói trên và có những bông sen còn ngâm mình dưới nước ví với những người có căn cơ thấp. Tuy nhiên tất cả họ đều có thể tiếp thu giáo lý của Ngài theo mỗi cách của họ và Ngài đã quyết định giảng chân lý mà Ngài vừa chứng ngộ. Trường hợp này, niềm tin tôn giáo bản thân của Đức Phật Thích Ca đã thôi thúc Ngài phát triển lên thành niềm tin tôn giáo có thiết chế xã hội rõ ràng.

        Nhiều nhà khoa học tuy mệnh danh là những người khám phá thế giới vật chất nhưng ở họ, niềm tin tôn giáo vẫn không bị mai một mà trái lại, họ cảm nhận những khám phá của mình chỉ là manh mún. Mở đầu cuốn Thế giới như tôi thấy, Albert Einstein đã viết: “Tình cảnh của những đứa con trái đất chúng ta mới kỳ lạ làm sao! Mỗi chúng ta đến đây như một chuyến viếng thăm ngắn ngủi. Ta không biết để làm gì, nhưng đôi khi ta cảm nhận được điều đó”.

        “Tôi tuyệt đối không tin vào tự do của con người theo nghĩa triết học. Mỗi người không chỉ hành động vì sự thúc ép ngoại cảnh mà còn theo đòi hỏi nội tâm” [Albert Einstein 2007: 15].

            Einsten nói câu trên giống như các lãnh tụ tôn giáo thế giới đã từng trải nghiệm. Đức Phật Thích Ca sau khi thiền định và giác ngộ dưới cây Bồ-đề thì nội tâm của Ngài đã thôi thúc Ngài phải làm cái gì đó cho nhân loại đang chịu khổ này. Đức chúa Giê-su sau khi suy tư nhiều ngày trong sa mạc đã xuất lộ cũng chỉ vì nhân loại đang chịu khổ. Tại sao họ phải làm vậy? Có thể trả lời rằng là bởi vì niềm tin trong nội tâm đã thôi thúc họ làm như vậy.

            Trở lại với Einstein, nhà khoa học được tôn sùng là người vĩ đại nhất của thế kỷ XX cũng trải nghiệm “cái bí ẩn” có thể nói là với thái độ bất khả tri: “Cái đẹp đẽ nhất mà chúng ta có thể trải nghiệm được là cái bí ẩn. Đó là cảm thức nền tảng trong cái nôi của nghệ thuật và khoa học chân chính. Kẻ nào không biết đến nó, không còn khả năng thảng thốt hay kinh ngạc, kẻ đó có thể coi như đã chết, đã tắt rụi lửa sống trong mắt mình” [Albert Einstein 2007: 20]. Và Einstein đã tin là có cái tôn giáo trong nghiên cứu khoa học đó là tôn giáo vũ trụ (cosmic religion), theo ông niềm tin vào một tôn giáo vũ trụ là cần thiết và ông còn cho rằng tôn giáo tương lai đáp ứng được nhu cầu đó chính là đạo Phật.

            “Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo vũ trụ. Nó siêu việt lên một Thượng đế cá nhân và tránh giáo điều và thần học. Bao gồm cả tự nhiên và tâm linh, nó dựa trên một cảm nhận tôn giáo, phát sinh từ sự thực nghiệm về mọi thứ, tự nhiên và tâm linh như một sự thống nhất có ý nghĩa. Đạo Phật đáp ứng mô tả này. Nếu có một tôn giáo nào phù hợp với nhu cầu khoa học hiện đại, nó phải là đạo Phật”I (1).

            Niềm tin của Eistein vào một tôn giáo vũ trụ, một tôn giáo không giáo điều và siêu việt lên Thượng Đế cá nhân đã cổ vũ cho bao lớp người làm khoa học từ đó đến nay. Cá nhà khoa học đã có được một niềm tin tôn giáo ngay trong lĩnh vực hoạt động của mình khiến cho họ không còn bị cô độc giữa những phát minh và con số nữa. Một niềm tin giúp họ ngày càng tiến xa hơn trong địa hạt của mình và không cảm thấy bức xúc gì.

            Nói tóm lại, theo tôi, con người chúng ta không thể sống mà thiếu niềm tin được dù là niềm tin đời thường hay niềm tin tôn giáo. Vì thiếu niềm tin, con người sẽ bị lầm lạc, bị chán nãn, bị biến thành những người máy nổi điên mà không sớm thì muộn nó cũng sẽ phá hủy thế giới của nó. Xin mượn lời của Henry Ford, người thành lập nên hãng xe hơi Ford nổi tiếng của Mỹ chịu ảnh hưởng đôi chút tư tưởng tôn giáo phương Đông để khép lại bài luận này: “Tôi chấp nhận thuyết tái sanh từ năm tôi 26 tuổi. Tôn giáo không cung cấp được cái gì thích hợp. Ngay công việc cũng không làm cho tôi được thỏa mãn đầy đủ. Công việc làm sẽ là vô ích nếu chúng ta không lợi dụng được kinh nghiệm của đời này để dùng cho đời sau. Khi tôi phát hiện được thuyết tái sanh, thì thời gian không còn bị hạn chế nữa. Tôi không còn là nô lệ của kim đồng hồ nữa. Tôi muốn truyền lại cho những người khác sự bình thản mà một quan điểm lâu dài về cuộc sống đã đem lại cho tôi”ii

            

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1/ Albert Einstein (Đinh Bá Anh, Nguyễn Vũ Hảo, Trần Tiễn Cao Đăng dịch, Bùi Văn Sơn Nam hiệu đính), Thế giới như tôi thấy, NXB. Tri Thức 2007.

2/ Minh Chi & Hà Thúc Minh, Đại cương triết học phương Đông, Đại học Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh 1993.

3/ Minh Chi, Các vấn đề Phật học, Viện Nghiên cứu Phật học 1995.

4/ Minh Chi, Quan điểm của đạo Phật về sống-chết, NXB TP. HCM 2007.

5/ Sơn Nam, Xóm Bàu Láng, NXB Trẻ 2005.

---------------------------------------

5

Nguồn: Võ Văn Thành (2014), “Thử bàn về niềm tin đời thường & niềm tin tôn giáo”, Nguyệt san Giác Ngộ, Phụ trương nghiên cứu Phật học của Báo Giác ngộ, số 215, tháng 2-2014, trang 59-65.

i “The religion of the future will be a cosmic religion. It would transcend a personal God and avoid dogmas and theology. Covering both the natural and the spiritual, it should be based on a religious sense, arising from the experience of all things, natural and spiritual, as a meaningful unity. Buddhism answers this description. If there is any religion that would cope with modern scientific needs, it would be Buddhism” [dẫn lại theo Minh Chi & Hà Thúc Minh 1993: Đại cương triết học phương Đông, Đại học Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh 1993]

ii Dẫn lại theo Quan điểm của đạo Phật về sống-chết, Minh Chi, NXB TP. HCM 2007.

Khái niệm về Anima (ẩn nữ) của đàn ông theo Carl Jung

Carl Gustav Jung   (26/7/1875 - 6/6/1961) là một bác sĩ tâm lý học, tâm thần học người Thụy Sĩ. Nổi tiếng với việc thành lậ...